Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, Ta có thêm ngày nữa để yêu thương...Người mà thích điều lành, phúc tuy chưa đến song họa đã xa; người mà không thích điều lành, họa tuy chưa đến, song phúc đã xa...Người ta lúc nhắm mắt đi thì để cho sâu bọ tha hồ đục vào thân xác, thế mà lúc sống không chịu nhường nhịn nhau một chút là tại làm sao ?...Người tốt mà giàu , thế là trời thưởng; người xằng mà giàu, thế là trời phạt...Mặt trời đứng bóng thì xế, mặt trăng đã tròn thì khuyết, vật gì thịnh lắm thì suy...Gieo suy nghĩ, gặt hành vi. Gieo hành vi, gặt thói quen. Gieo thói quen, gặt tính cách. Gieo tính cách, gặt số phận....

Facebook Haco Chi

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Khí phách đất và người xứ Quảng qua bài thơ " Núi Ngũ Hành"


alt 
Với ngôn từ mộc mạc, bình dị, thẳng thắn như cách nói của người Quảng, lại được kết hợp hài hoà, uyển chuyển với những từ ngữ tinh tế và đắc địa, Vân Long đã viết nên bài thơ đặc sắc thể hiện khí phách đất và người xứ Quảng.

alt
Núi Ngũ Hành

Huyền Không động
Trời ở đây cực hiểm!
Vệt nắng xuyên, tuyệt bút của thiên nhiên
Đá cắt trời như trẻ con cắt giấy

Đứng bên ngoài
Núi Thủy cũng thường thôi
Vào lòng núi bỗng sa mê hồn trận
Đá ẩn hiện, đá thở và đá sống
Tự làm một cõi đời riêng

Người ở đây
Nom cũng thường thôi
Mà bão đạn, bão trời
Mặt người không biến sắc
Sừng sững trước biển Đông
Mặt người như đá tạc!

                           Vân Long
Hai khổ đầu tả về danh thắng Ngũ Hành Sơn với những nét điểm xuyết, liên tưởng, so sánh và nhận xét tinh tế, độc đáo và đầy bất ngờ. Như người ta truyền tụng rằng, thả một trái bưởi xuống “Huyền Không động” thì có thể thấy lại trái bưởi ấy ở ngoài biển khơi. Còn khi tả Núi Thủy, tác giả đưa ra nhận xét bên ngoài “cũng thường thôi”, ấy nhưng khi vào lòng núi thì thật là bất ngờ “sa mê hồn trận” với những “đá ẩn hiện, đá thở và đá sống”. Nếu dừng lại ở đây cũng có thể coi là bài thơ đặc sắc về thiên nhiên hết sức độc đáo với những liên tưởng đầy bất ngờ:
Trời ở đây cực hiểm!
Vệt nắng xuyên, tuyệt bút của
 thiên nhiên
Đá cắt trời như trẻ con cắt
giấy...
........
Vào lòng núi bỗng sa mê hồn
trận
Đá ẩn hiện, đá thở và đá sống...

alt 


Bài thơ càng trở nên đặc sắc hơn nhờ những câu thơ tiếp theo nói về con người đất Quảng. Dù phần nhiều ý thơ tả về cảnh quan thiên nhiên, nhưng đó chỉ là nền để làm nổi bật, để khắc họa tính cách, tinh thần người Quảng mà thôi. Là người Hà Nội, song Vân Long đã có những phát hiện rất sắc sảo và tinh tế về thiên nhiên đất Quảng, về thế giới tinh thần phong phú, ý chí kiên trung của con người đất Quảng. Từ bề ngoài không có gì nổi bật, nhưng khi hiểu sâu sắc mới nhận ra được những vẻ đẹp tiềm ẩn khiến ta hết lòng khâm phục. Con người nơi đây được tôi luyện ở một vùng đất trời “cực hiểm”, cực khắc nghiệt, như “tự làm một cõi đời riêng” để khi đứng trước khó khăn gian khổ, hy sinh mất mát giữa “bão đạn, bão trời” mà “mặt người không biến sắc”. Điều đó được thể hiện khi đối mặt với giặc ngoại xâm, quân và dân đất Quảng đã chiến đấu với ý chí kiên cường, không lùi bước trước một thế lực, một sức mạnh nào :
Mà bão đạn, bão trời
Mặt người không biến sắc
Sừng sững trước biển Đông
Mặt người như đá tạc!

Truyền thống anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang đã được minh chứng một cách hùng hồn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng đất nước và thống nhất cho Tổ quốc. Trước những mất mát hy sinh, quân và dân đất Quảng “sừng sững” đứng lên chiến đấu ngoan cường, trở thành quê hương của những người anh hùng đi đầu diệt Mỹ. Ngợi ca tính cách, tinh thần và ý chí của con người đất Quảng, tác giả dùng rất ít lời để nói trực tiếp, mà đã tả cảnh để ngụ ý, vẽ đá để khắc người.

alt
Bài thơ “Núi Ngũ Hành” như một bức tranh sơn mài với những đường nét chạm khắc rắn rỏi về thiên nhiên khắc nghiệt, hiểm hóc và rất kỳ vỹ của đất Quảng. Và quan trọng hơn, bức tranh có những nét chấm phá đặc sắc về tinh thần bất khuất, ý chí quật cường của người Quảng.
                                                       VŨ ĐÌNH ANH
altalt

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Giọng Quảng

“Quảng Nam ăn cục nói hòn...”. Câu này thoạt nghe có thể cho là của người địa phương nào đó nhận định về con người đất Quảng. Nhưng tôi lại nghĩ đó là cách nói của chính người Quảng khi nhận xét về mình.
Có lẽ trên khắp đất nước này, chỉ người Quảng - bao gồm dân cư hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi - là giữ riêng cho mình cái giọng “chẳng giống ai”. Tất nhiên không riêng gì Quảng Nam mà bất cứ địa phương nào cũng có những dấu hiệu đặc trưng về ngôn ngữ. Những dấu hiệu đó bao gồm các yếu tố về thổ ngữ, thổ âm, thanh điệu giọng nói và phong cách phát ngôn, trong đó yếu tố sau cùng là khó sửa, khó bắt chước và mang tính đặc trưng hơn cả bởi nó còn định hình một tập quán ứng xử của cộng đồng cư dân được di truyền qua nhiều thế hệ. Có lẽ cái “thương hiệu” ăn cục nói hòn của người Quảng Nam cũng đã được xác lập từ yếu tố này.
Nhớ có lần cùng mấy anh em nhậu tại một quán cóc ở Vinh. Lúc ngà ngà say, có hai anh cãi nhau riết rồi chuyển qua trò khích tướng. Anh này bảo:
- Uống kiểu như mi mần răng mà đẻ con trai được?
Anh kia sừng sộ: Kẹt ta mi nề!
Vừa lúc cô chủ quán bưng lên một đĩa nem nướng, không rõ cô ta nghe ra thế nào mà lại rối rít:
- Dạ vâng! Cảm ơn bác ạ!
Thực ra, những thổ ngữ như răng rứa ni tê chi mô…thì cư dân suốt dải bắc Trung bộ đều dùng nên ngày nay cả nước đều có thể hiểu được. Cái sự khác người ở giọng Quảng là ở thổ âm. So với tiếng phổ thông, tiếng Quảng có sự sai biệt khá rõ ở những vần đuôi như: a, ai,  ao, au, ay, am, ap, an, ang, ac, at, ăm, ăp, ăn, ăng, ăc , ăt, oi, oai, ong, oc, op, uyên... Cư dân các vùng miền khác chắc chắn sẽ trợn mắt lắc đầu khi nghe những câu rặt Quảng đại loại như:
- Bá lốp, núa rứa lồm reng cho lột tưa héng (Bá láp, nói rứa làm răng cho lọt tai hắn).
- Hộp hùa, nghe béc lang ác (Họp hoài, nghe bắt long óc).
Còn về phong cách phát ngôn, có lẽ bản sắc riêng trong giọng Quảng là ở cấu trúc câu văn. Hình như trong câu nói của người Quảng, nhiều tiếng, nhiều từ đã bị giản lược tối đa và được hiểu ngầm qua ngữ điệu. Thử nghe một mẩu đối thoại sau đây giữa một phóng viên người Bắc và một nông dân Quảng:
- Chào bác ạ! Năm nay chắc đồng mình được mùa bác nhỉ?
- Ri đây! Xơm xơm rứa chớ mấy hột!
- Sao vậy bác? Cháu thấy lúa mùa này bông to, trổ đều lắm mà!
- Bạc lạc hết! Mới phun đòng gặp bấc chịu chi nổi.
Phong cách nói năng kiểu Quảng còn thấm đẫm cả trong văn chương chữ nghĩa. Ở Điện Bàn còn lưu truyền một cặp vế đối trứ danh của hai cụ Tú thuộc hai làng Phước Chỉ và La Qua:
Con gái La Qua, qua hun qua hít, qua vít qua véo, qua chọc qua ghẹo, biểu em đừng có la qua.
Đàn bà Phước Chỉ, chỉ xấu chỉ xa, chỉ bài chỉ bạc, chỉ lười chỉ nhác, Chỉ có chồng là may phước chỉ.

Và Phan Khôi, một thi nhân đất Quảng, trong giai đoạn quẫn bách nhất cũng đã buông một câu thở dài theo cốt cách Quảng Nam:
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao!
Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi!


Phan Văn Minh

Tỏa sáng vùng đất di tích

Là vùng đất có bề dày truyền thống yêu nước, văn hoá và cách mạng, nên huyện Điện Bàn đã được Nhà nước công nhận 36 di tích lịch sử-văn hoá, trong đó có 4 di tích lịch sử-văn hoá cấp quốc gia (Lăng mộ Tổng đốc Hoàng Diệu, Lăng mộ Tiến sĩ Trần Quý Cáp, Tháp Bằng An và Giếng nhà Nhì -nơi chiến đấu của các Dũng sĩ Điện Ngọc)
Mỗi di tích gắn liền với từng địa danh qua các giai đoạn lịch sử, thể hiện khí phách kiên cường trong đấu tranh chống các thế lực xâm lược và truyền thống hiếu học của đất và người Điện Bàn. Trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết TW 5 khoá VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” huyện Điện Bàn đã đề ra mục tiêu “vận động xã hội hoá để tăng cường đầu tư nâng cấp, xây dựng, quản lý các di tích, biến các di tích ở từng vùng trở thành nơi giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau, kết hợp xây dựng những nơi ấy thành khu công viên, khu du lịch lịch sử -văn hoá.”          
    Khởi đầu cho việc quản lý di tích, ngành Văn hóa thông tin phối hợp với các ngành liên quan khảo sát, đo đạc xác định lại diện tích, lập bản đồ qui hoạch, cắm mốc để có cơ sở giao cho xã, thị trấn quản lý và lần lượt phát động xây dựng, nâng cấp qua từng năm. Do điều kiện nguồn vốn ngân sách không đảm bảo, nên huyện Điện Bàn dựa vào các tộc họ, gia đình, làng xóm, bà con Điện Bàn sống xa quê và các tấm lòng mạnh thường quân để chung tay, góp sức cho cuộc vận động nâng cấp di tích. Với niềm tự hào vô hạn về những danh nhân trong làng, các tộc ở xã Điện Quang, Điện Trung, Điện Tiến, Điện Thọ đã có những việc làm đầy tình nghĩa, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đóng góp khá lớn về tiền bạc, công sức cho cuộc vận động có ý nghĩa này. Anh Nguyễn Đức Chơi, Chủ tịch UBND xã Điện Quang, quê hương Chương Dương- Hoàng Diệu, nơi sản sinh nhiều danh nhân, nơi số lượng di tích nhiều nhất ở huyện Điện Bàn đã khẳng định với tôi “không vận động xã hội hoá thì không thể nào đủ sức nâng cấp di tích theo hướng bền vững, để vừa chống chọi với thiên tai bão lụt, vừa tạo ra vị thế di tích hoành tráng, trang nghiêm và sáng đẹp. Ở xã Điện Quang chúng tôi cũng chính từ sức mạnh xã hội hoá, đặt biệt là vai trò tộc họ nên đã đầu tư nâng cấp khang trang, bề thế di tích Lăng mộ chí sĩ Lê Đình Dương, bia chiến tích Chương Dương, Lăng mộ Hoàng Diệu và một số di tích khác trên địa bàn xã”. Còn ở xã Điện Trung, dân làng và bà con tộc Phạm Phú rất tự hào, ngưỡng mộ về tấm gương danh nhân Phạm Phú Thứ, một người thông minh hiếu học, mới 23 tuổi đã đỗ Tiến sĩ, một vị đại khoa có tầm nhìn sớm về hướng canh tân đất nước theo xu thế phát triển của khoa học kỹ thuật nên tộc đứng ra vận động các thế hệ con cháu trong tộc nâng cấp lăng mộ của ông nằm trên cánh đồng Điện Trung bạc ngàn bãi bắp, nương dâu, đồng lúa như nhắc nhở lớp con cháu hãy học tập và làm theo tấm gương hiếu học của ông để làm sống mãi truyền thống đất học Gò Nổi - Điện Bàn.          
    Về Điện Tiến, mảnh đất năm xưa “cá rô chim chéo lúa trì. Ai về Điện Tiến thì đi với mình”, mảnh đất mà cách đây gần 54 năm chấn động với trận chiến thắng Bồ Bồ, một Điện Biên Phủ ở Quảng Nam, và hôm nay là một xã văn hoá ở huyện Điện Bàn tôi lại càng cảm phục trước tấm lòng của bà con các chư tộc với di tích đình làng Diệm Sơn. Trải qua hàng trăm năm với bao biến thiên của lịch sử và thời gian mưa gió, bão lũ dồn dập nhưng đình Diệm Sơn vẫn hiên ngang đứng vững giữa lòng đất Điện Tiến anh hùng. Những ngày đầu về lại với ngành Văn hoá thông tin huyện, tôi có dịp trở lại Diệm Sơn, được tận mắt chứng kiến ngôi đình tuy rêu phong nhưng tràn đầy “hồn” di tích lịch sử. Chính dưới nền đình là căn hầm bí mật đã từng chở che biết bao chiến sĩ và cán bộ lãnh đạo Đặc khu ủy Quảng Đà và đã trải qua hàng chục năm kể từ ngày quê hương im tiếng súng đến bây giờ, nắp hầm và đường xuống miệng hầm vẫn còn y nguyên như lòng dân Xuân Diệm, Điện Tiến suốt một đời thuỷ chung son sắc với cách mạng. Lại càng cảm động hơn với các đồng chí đã một thời đội mưa bom, bão đạn sống mái với quân thù trên chiến trường Bồ Bồ năm xưa như anh Tiễn, anh Cường đã lặn lội khắp nơi, hết đi Đà Nẵng lại đi vào thành phố Hồ Chí Minh để tìm gặp đồng hương vận động ủng hộ nâng cấp di tích đình Diệm  Sơn. Về làng La Trung xã Điện Thọ, đến di tích nhà thờ tộc Phan Công, nơi tổ chức các cuộc họp phát động quần chúng nổi dậy và tiến công của Huyện uỷ Điện Bàn trong kháng chiến chống Mỹ, tôi rất vui khi chứng kiến không khí bà con trong tộc họ và bà con dân làng sống xa quê cùng chung sức mở  con đường bê tông thẳng tắp băng qua cánh đồng cao sản đi về di tích, và xem đây là hướng đột phá ban đầu để tiếp tục cho một chương trình nâng cấp toàn diện di tích trong những năm đến. Ông Phan Thỉnh, một trong những thành viên tích cực trong tộc đã tâm sự với tôi “Tộc chúng tôi rất có vinh dự vì có nhà thờ tộc được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử-văn hoá cấp tỉnh. Bà con trong tộc quyết tâm chỉnh trang lại nhà thờ để vừa có nơi trang nghiêm thờ phụng ông bà tổ tiên, nơi giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ con cháu trong tộc, vừa mở ra không gian du lịch ở làng quê Điện Thọ. Nhưng muốn làm được việc ấy, Nhà nước nên quan tâm đến việc qui hoạch bố trí đất đai cho di tích”.          
    Không chỉ dừng lại ở con số di tích hiện có , hiện nay ngành Văn hoá thông tin -Thể thao huyện Điện Bàn đang cùng với các địa phương tiếp tục khảo sát lập hồ sơ để đề nghị về trên tiếp tục công nhận hàng loạt di tích khác. UBND huyện đã ban hành qui chế quản lý di tích phân rõ trách nhiệm của từng địa phương, từng chủ di tích. Trong các cuộc họp hàng năm của Huyện uỷ, HĐND,UBND huyện đều có ghi vào Nghị quyết nhiệm vụ quản lý di tích và giao trách nhiệm cho ngành Văn hoá thông tin tăng cường công tác quản lý Nhà nước , nắm chắc thực trạng để tham mưu cho huyện có định hướng xây dựng, nâng cấp, kiên quyết không được để các di tích bị xâm lấn đất đai hoặc xuống cấp hư hại nghiêm trọng nhưng không có biện pháp trùng tu, sửa chữa.
 PHẠM NÊN

Chuyện học văn và dạy văn

Nguyễn Hưng Quốc



Lâu nay, thú thực, tôi không thể gạt khỏi óc mình cái ý nghĩ này: có thể tôi đã là một nhà thơ, không chừng là nhà thơ kha khá, nếu hồi nhỏ tôi không từng là một học sinh quá giỏi văn.

Xin nói ngay: cách diễn đạt có vẻ chứa đựng một nghịch lý ở trên không hề là một biện pháp tu từ cốt để gây chú ý. Ðiều tôi vừa trình bày là một nhận định hết sức nghiêm chỉnh. Và tôi tin đó không phải là kinh nghiệm của một mình tôi.

Tôi mê đọc sách rất sớm, có lẽ ngay từ những năm lớp 3 hay lớp 4 gì đó. Loại sách tôi mê đọc đầu tiên trong đời, oái oăm thay, lại là... truyện chưởng. Nguyên nhân chủ yếu là do ông anh cả của tôi, lớn hơn tôi bảy tuổi, dạo ấy đang ghiền đọc loại này. Mỗi cuối tuần, anh lại tha về 4, 5 tập. Tôi đọc ké. Anh tôi không bao giờ đủ rộng lượng hay kiên nhẫn để chờ tôi đọc hết mới mang đi đổi các tập khác. Do đó, tôi phải cố gắng đọc nhanh ngang với tốc độ đọc của anh ấy. Và phải đọc nhảy: trong lúc anh đọc tập một thì tôi phải đọc tập hai; khi anh xong tập một thì tôi phải xong tập hai và chuyển sang tập ba để nhường tập hai lại cho anh. Cứ như thế, đến lúc anh đọc tập cuối cùng thì tôi quay lại đọc tập một. Với sức đọc như thế, chỉ vài năm sau là lượng sách trong tiệm cho thuê đã cạn. Và tôi cũng chán nữa: đọc riết, tôi khám phá ra năng lực tưởng tượng của các tác giả truyện chưởng cũng khá nghèo: các câu chuyện có thể khác nhau ở nhân vật và một số tình tiết nhưng kết cấu chung thì cứ như đúc từ một khuôn. Rất công thức. Rất đơn điệu. Và do đó, rất khả đoán.

Chán truyện chưởng, tôi quay sang đọc các loại sách văn chương nghiêm chỉnh hơn. Không hiểu sao, tôi lại sa vào thơ. Tôi không những đọc nhiều thơ, vô số thơ, mà còn làm thơ nữa. Những bài thơ đầu tay của tôi được các thầy cô giáo khen ngợi nồng nhiệt và mang đọc cho học sinh các lớp khác nghe. Tôi nhanh chóng nổi tiếng là một "nhà thơ trẻ đầy triển vọng" không những trong cái trường cấp hai nơi tôi học, mà còn cả trong cái làng nơi tôi ở, cái làng nhỏ xíu tập hợp những mảnh đời khốn khổ do chiến tranh xô đẩy tới.

May, tôi nhạy bén đủ để ý thức rất sớm "tiếng tăm" trong một môi trường như thế là điều hoàn toàn không đáng tin cậy. Tôi nuôi tham vọng lớn hơn: được công nhận là nhà thơ trong cả nước. Muốn thế, tôi không ngừng tự trau dồi "tay nghề" của mình bằng cách học thật kỹ những bài thơ được tuyển trong chương trình giảng văn trong lớp. Tôi đã tin, như vô số người khác từng tin và đến nay vẫn còn tin, những bài thơ ấy là "kinh điển", là mẫu mực của cái hay và cái đẹp bất hủ trong lịch sử. Ði theo những bài thơ ấy, nói như Hồ Chí Minh, "toàn thắng ắt về ta."

Những nhà thơ đầu tiên trong chương trình cổ văn tôi học thời ấy là Lê Thánh Tông và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Giữa hai người, sự ái mộ của tôi nghiêng hẳn về Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chẳng hiểu tại sao. Tôi đọc thuộc lòng các bài thơ về nhân tình thế thái của ông. Và tôi cũng làm thơ y như ông. Cũng Ðường luật. Cũng bằng bằng trắc trắc. Cũng niêm, cũng đối. Và nhất là cũng ngất ngưởng chán đời. Ðến bây giờ, tôi chỉ còn nhớ được hai câu:


Thôi, giã biệt trời cao danh vọng
Về làm thi sĩ chốn thâm sơn.

Giọng thơ như thế, từ một đứa bé 13, 14 tuổi đầu, đã được các thầy cô giáo khen ngợi nức nở. Tôi phởn lên, làm tiếp. Trong một năm, về số lượng, không chừng tôi qua mặt cả Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Sau đó, chuyển sang phần kim văn, tôi được học những bài thơ mới hơn, chủ yếu trong phong trào Thơ Mới thời 1932-45. Cũng chẳng hiểu tại sao, trong phong trào Thơ Mới, tôi lại tâm đắc nhất với Thế Lữ. Tôi không những học thuộc các bài thơ của ông được trích tuyển trong sách giáo khoa mà còn tìm học cả tập Mấy vần thơ của ông nữa. Học, mê và... bắt chước. Bắt chước đến độ hình như bài thơ nào của tôi thời ấy cũng phả ra cái mùi của Thế Lữ. Chẳng hạn:


Ta dẫu biết yêu đương là đau khổ
Nhưng bóng nàng hồ dễ xoá trong tim.

Dạo ấy, học lớp 8, tôi mê một cô bạn học cùng lớp. Tôi tự đặt cho mình một "chỉ tiêu": mỗi ngày làm tặng "nàng" một bài thơ. Chồng vở chép thơ cứ ngày một dày cộm. Bài thơ nào cũng nồng nặc mùi Thế Lữ. Không biết cô gái ấy nghĩ thế nào chứ thầy, cô và bạn bè của tôi thì ai cũng khen tíu tít. Tôi rất tự hào, nghĩ thầm: thơ mình không khác gì, và do đó, không thua gì thơ Thế Lữ. Chưa hết. Tôi tưởng tượng tiếp: theo cái đà ấy mà mài sắc ngòi bút thêm khoảng vài ba năm nữa, đến lúc xong cấp ba, hẳn thơ mình sẽ vượt xa Thế Lữ! Tôi nén lòng không gửi đăng trên tờ báo nào cả. Chủ yếu là để dành cho thiên hạ một sự ngạc nhiên. Tôi lại tưởng tượng: sau này, đọc thơ tôi, giới phê bình sẽ bắt chước Hoài Thanh khi viết về Chế Lan Viên ngày trước, trầm trồ: "ông" xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị.

Trong lúc giới phê bình chưa kịp bàng hoàng trước "niềm kinh dị" ấy thì người con gái tôi yêu lại ngả lòng trước thằng bạn tôi; một thằng bạn, trước, tôi xếp vào hạng bất tài và vô danh tiểu tốt: học kém, lười, và tuyệt đối không biết... làm thơ. Khổ, hắn không biết làm thơ nhưng lại hát hay lạ lùng. Tôi và bạn bè trong lớp khám phá ra điều ấy trong một buổi văn nghệ cuối năm. Bạn tôi lên sân khấu, guitar trên tay, hát bài "Mùa thu chết". Tôi nghe, lặng người. Lặng người, thoạt đầu, vì xúc động, sau, vì ngưỡng mộ, và cuối cùng, vì ghen tuông: khi nhìn sang một góc phòng, thấy cách "người yêu" của tôi nhìn thằng bạn tôi, tôi biết là tôi đã mất cô ấy. Mà mất thật. Sau đó, hai đứa bắt bồ với nhau. Tôi đau đớn nhận thấy cả mấy trăm bài thơ "không khác và không thua gì thơ Thế Lữ" của mình không địch nổi bài hát "Mùa thu chết".

Thất tình, tôi mở các "thi phẩm" của mình ra đọc lại. Chỉ thấy nhạt. Và dở. Tôi đâm ra hoang mang. Cất các tập thơ ấy thật kỹ; mấy tháng sau, mang ra đọc lại. Vẫn thấy nhạt và dở. Hơn cả hoang mang, tôi bàng hoàng, thấy, không phải chỉ mất một người yêu mà có thể còn mất cả niềm hy vọng trở thành một "nhà thơ lớn". Tôi cố không tin điều đó. Tôi xếp các tập thơ vào kệ sách, chờ một ngày bình tâm sẽ đọc lại, biết đâu sẽ thấy hay... như cũ. Tiếc, cái ngày ấy không bao giờ đến cả. Càng về sau, đọc lại, tôi càng thấy những bài thơ từng làm mình ngất ngây và từng được thầy, cô cũng như bạn bè khen ngợi nhiệt liệt ấy, chỉ là những bài thơ sáo rỗng, nhạt nhẽo và lười biếng. Chúng chẳng có chút gì đáng gọi là sáng tạo. Chúng chỉ ò e theo những khuôn nhịp đã có sẵn, những cảm xúc và những tư tưởng đã có sẵn. Có khi đã có sẵn từ nhiều trăm năm trước. Tôi quyết định đem đốt tất cả các "thi phẩm" của mình. Ðốt sạch. Nghĩ thầm: mình không thực sự có tài về thơ. Và tự dặn dò mình: Ðừng làm thơ nữa, vô ích.

Nếu ví văn chương như một canh bạc thì, từ đó đến nay, chưa bao giờ tôi bỏ một đồng nào trong cái ô gọi là "thơ" cả. Xu thì có; nhưng đồng thì không. Tôi không muốn mất thì giờ và năng lực vào cái nơi mình biết chắc là không phải sở trường của mình.

Tuy nhiên, gần đây, trong lòng tôi lại gợi lên một chút băn khoăn: giá như tôi được hưởng một chế độ giáo dục tốt hơn, liệu tôi có chút hy vọng gì trong lãnh vực thơ ca hay không?

Tôi nghĩ là có.

Xin bạn đọc đừng hiểu lầm. Tôi viết bài này không phải với tâm trạng của một người tiếc nuối cái kho báu mà mình tìm được trong một giấc mơ. Tôi chỉ muốn từ kinh nghiệm của riêng mình để nghĩ về một vấn đề rộng hơn: vấn đề dạy và học Văn tại Việt Nam. Ðây là một vấn đề lớn, từng làm day dứt nhiều bậc trí thức trong cũng như ngoài nước, và cũng từng gây nên biết bao sóng gió trên vô số các diễn đàn khác nhau. Bên cạnh những dị biệt, thậm chí xung đột gay gắt, có một điểm hầu như mọi người đều đồng ý: việc dạy và học Văn tại Việt Nam đã và đang đối diện với những thử thách vô cùng nghiêm trọng. Kiến thức về văn học của học sinh càng ngày càng nghèo; thói quen đọc sách càng ngày càng ít; khả năng phân tích và cảm thụ văn học càng ngày càng xuống dốc; khả năng diễn đạt, đặc biệt, diễn đạt bằng ngôn ngữ viết càng ngày càng kém cỏi. Và quan trọng nhất: nhiệt tình của mọi người đối với môn Văn càng ngày càng nguội lạnh: thầy cô giáo thì chán dạy còn học trò thì chán học.

Người ta đã cố gắng tìm và đã tranh luận ầm ĩ về các nguyên nhân gây ra tình trạng trên. Người ta đổ tội cho sách giáo khoa vốn đầy những sai sót. Người ta cũng đổ tội cho trình độ yếu kém của các thầy cô giáo, kể cả các thầy cô giáo thuộc loại đầu ngành, những người chịu trách nhiệm chính trong việc hoạch định chương trình và soạn thảo các tài liệu hướng dẫn giảng dạy. [1] Với các mức độ khác nhau, tôi đồng ý với những sự phê phán ấy, tuy nhiên, tôi lại không cho đó là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xuống dốc thê thảm của việc dạy Văn và học Văn hiện nay. Những cái sai trong sách giáo khoa hay những sự yếu kém của các thầy cô giáo chắc không phải chỉ ở Việt Nam mới có. Vả lại, sai thì sửa; yếu kém thì học hỏi thêm. Không đến nỗi quá tuyệt vọng. Vấn đề là: vì không phải là nguyên nhân chính, cho nên ngay cả khi những khuyết điểm ấy đã được khắc phục, tình trạng suy đồi trong việc dạy và học Văn hiện nay chưa chắc đã chấm dứt.

Nguyên nhân chính, tôi nghĩ, nằm ở chỗ khác: chiến lược thiết kế chương trình.

Khái niệm "chiến lược thiết kế chương trình" khá rộng, ở đây, tôi chỉ tập trung vào một lãnh vực duy nhất: môn Văn; và ở môn Văn, tôi chỉ tập trung vào một nguyên tắc duy nhất: thiết kế chương trình văn học ở các cấp theo trình tự thời gian. Theo nguyên tắc này, ở đại học, sinh viên lần lượt học văn học dân gian trước, sau đó mới đến văn học viết; trong văn học viết, học văn học trung đại trước, sau đó mới đến văn học hiện đại và cuối cùng, đương đại. Ở trung học, ít nhất là trung học phổ thông, với các tài liệu tôi có trong tay, kết cấu chương trình cũng thế: lớp 10 học văn học dân gian và văn học viết từ thế kỷ 10 đến khoảng thế kỷ 16; lớp 11, học văn học viết trong thế kỷ 18,19 và nửa đầu thế kỷ 20 (cho đến năm 1945); lớp 12, tiếp tục học về văn học trong nửa đầu thế kỷ 20, sau đó, chuyển sang học về văn học "Cách mạng" từ 1945 đến 1975. [2]

Như là hậu quả của cách thiết kế chương trình ấy, cái gọi là chương trình Văn Học tại Việt Nam thực chất là Lịch Sử Văn Học. Nhưng Lịch Sử Văn Học khác Văn Học ở chỗ nào? Khác, ít nhất ở hai điểm. Thứ nhất, nếu trung tâm của Văn Học là bản thân các tác phẩm văn học thì trung tâm của Lịch Sử Văn Học lại là mối quan hệ giữa các tác phẩm ấy cũng như mối quan hệ giữa các tác phẩm ấy với tác giả và bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội, văn hoá chung quanh. Thứ hai, trong Văn Học, mỗi tác phẩm ít nhiều mang tính tự trị và tự tại, tự chúng đầy đủ cho chúng, tự chúng có thể giải thích và làm sáng giá cho chúng; trong Lịch Sử Văn Học, ngược lại, mỗi tác phẩm chỉ tồn tại như một đơn vị trong một chuỗi các đơn vị khác được xếp hàng theo trình tự thời gian.

Dạy lịch sử văn học thay vì văn học, tham vọng của các nhà thiết kế chương trình giáo dục tại Việt Nam là muốn cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về quá trình phát triển của văn học Việt Nam qua các thời đại khác nhau; những tác giả và tác phẩm tiêu biểu nhất của từng thời đại và các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố trọng yếu làm nên diện mạo văn học của từng thời đại. Tôi băn khoăn: một tham vọng như vậy có quá lớn hay không? Liệu một người trung bình, khi học xong lớp 12, có cần phải biết về toàn bộ quá trình phát triển, dù sơ lược, của nền văn học Việt Nam hay không? Lớn, nhưng lại bất cập: Liệu, để đạt được chút hiểu biết ấy, họ có phải hy sinh quá nhiều những thứ khác, có khi còn quan trọng hơn nhiều, hay không?

Xin lưu ý là ở các nước Tây phương hiện nay, ít nhất là ở các xứ nói tiếng Anh, việc dạy văn học không nhất thiết phải gắn liền với văn học sử. Ở đại học, chương trình được thiết kế chủ yếu theo chủ đề, và các chủ đề ấy không nhất thiết phải có quan hệ với nhau theo trình tự thời gian. Ví dụ, sinh viên năm thứ nhất có thể chọn học môn "Chủ nghĩa hiện đại", thậm chí, "Chủ nghĩa hậu hiện đại", sau đó, năm thứ hai và thứ ba, mới học "Văn học cổ đại", "Văn học trung đại", "Văn học lãng mạn" và "Văn học hiện thực thế kỷ 19", v.v... [3] Ở trung học, chương trình chủ yếu xoay quanh các tác phẩm văn học: ở mỗi trình độ, Bộ giáo dục đề nghị một danh sách các tác phẩm khác nhau, từ cổ điển đến đương đại, từ văn học ngoại quốc đến văn học trong nước; và thầy cô giáo có thể chọn hai hay ba tác phẩm ấy để thầy trò cùng nhau đọc, phân tích, so sánh, đánh giá... trong suốt cả niên học.

Bởi vậy, việc thiết kế chương trình văn học theo trình tự thời gian để văn học bị biến thành văn học sử không phải là một giải pháp duy nhất. Hơn nữa, rõ ràng đó không phải là giải pháp tốt nhất, nếu không muốn nói, ngược lại, là giải pháp lạc hậu và có nhiều khuyết điểm nhất.

Khuyết điểm đầu tiên là học sinh và sinh viên bị đặt trong một tình trạng đầy nghịch lý: họ phải học cái xa trước và cái gần sau; cái khó trước và cái dễ sau. Có lẽ ai cũng đồng ý là, trừ một số ngoại lệ nào đó, với học sinh và sinh viên, một bài thơ của Xuân Diệu hay Nguyễn Bính hẳn nhiên là dễ hiểu và dễ cảm hơn một bài thơ của Tú Xương hay của Nguyễn Khuyến; và một bài thơ của Tú Xương hay của Nguyễn Khuyến hẳn nhiên là dễ hiểu và dễ cảm hơn một bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi hay của Lê Thánh Tông, v.v... Truyện cũng thế. Hầu như bất cứ truyện ngắn nào của các nhà văn Việt Nam đương đại cũng đều có phần dễ hiểu và dễ cảm hơn các truyện ngắn trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ; bất cứ cuốn tiểu thuyết về chiến tranh đương đại nào cũng đều có phần dễ hiểu và dễ cảm hơn cuốn tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm Ngô Gia văn phái, v.v... Dễ hiểu và dễ cảm, một phần ở ngôn ngữ gần với đời thường hơn; ở đề tài gần với kinh nghiệm của học sinh hơn; ở quan điểm thẩm mỹ gần với khí hậu thẩm mỹ chung quanh hơn; ở các quy ước thể loại gần với văn hoá văn chương đương đại hơn. Thế nhưng, điều oái oăm là, theo cấu trúc chương trình văn học hiện nay, học sinh và sinh viên phải học thơ Nôm của Nguyễn Trãi và của Lê Thánh Tông trước khi học tới thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương, và cuối cùng, cả mấy năm sau, mới học thơ của Xuân Diệu, Nguyễn Bính và các nhà thơ đương đại khác. Ngay từ lớp 10, học sinh đã phải học các truyện truyền kỳ của Nguyễn Dữ, và đến năm lớp 12 thì mới được học các truyện ngắn hiện đại.

Lối thiết kế chương trình như vậy có cái gì hao hao như lối thiết kế chương trình trong các trung tâm huấn luyện quân sự: đầu tiên là tuần huấn nhục, ở đó, các khoá sinh bị đày ải, thậm chí, bị sỉ nhục đến tận cùng để biết sợ và từ đó, biết vâng phục mọi mệnh lệnh từ cấp trên. Sau, chương trình học cứ nhẹ dần. Nhẹ dần.

Các chuyên gia về văn học Việt Nam muốn bắt chước các chuyên gia về quân sự chăng? Chắc là không. Nhưng chiến lược giáo dục của cả hai bên đều có đặc điểm giống nhau: quan liêu. Các nhà giáo dục Việt Nam, khi hoạch định chương trình, có lẽ chỉ xuất phát từ những quan điểm và những quán tính có sẵn, chứ chắc chưa bao giờ tự đặt câu hỏi: một chương trình như thế có được học sinh hay sinh viên tiếp nhận dễ dàng hay nhất là, thích thú hay không? Hình như người ta bất cần. Hình như người không thừa nhận ở học sinh và sinh viên cái quyền được có sở thích riêng. Hình như người ta chưa hề biết đến phương pháp giáo dục lấy học sinh làm trung tâm (students-centered approach) vốn khá phổ biến trên thế giới hiện nay. Hình như người ta, mặc dù hay nói đến chuyện dân chủ, chưa bao giờ tự cảm thấy có nhu cầu thực hiện dân chủ ngay ở cái nơi dễ và cần dân chủ hoá nhất: dạy học. Và nền giáo dục phải trả giá cho thái độ quan liêu ấy: phần lớn học sinh quay lưng hẳn lại với môn Văn như một cách bỏ phiếu "Không". Mà cũng phải chứ: làm sao một học sinh ở những năm đầu tiên của bậc trung học có thể hiểu, cảm và từ đó, thích những vần thơ lổn nhổn các từ cổ của Nguyễn Trãi, những bài thơ khô khan và khệnh khạng của Lê Thánh Tông cũng như những bài thơ về nhân tình thế thái rất mực già nua của Nguyễn Bỉnh Khiêm được? Theo tôi, đó là điều bất khả. Có điều là ngày trước, khi văn hoá vâng phục còn nặng, học sinh dễ dàng chấp nhận học cả những điều mình không thích, mọi chuyện đều có vẻ tốt đẹp. Nhưng càng ngày giới trẻ càng đòi hỏi cái quyền được chọn lựa, và từ đó, cái quyền được từ chối, hoặc ít nhất, cái quyền-được-chán, những môn học được thiết kế trên một tinh thần quan liêu như vậy gặp khó khăn ngay tức khắc.

Tôi không thương những đứa trẻ công khai khinh bỉ hoặc chán chường môn Văn hiện nay cho bằng những đứa trẻ ngoan ngoãn học cả những điều mình không thích như tôi thời nhỏ: chúng mất mát ít hơn thế hệ của tôi. Từ chối học Văn trong nhà trường, chúng vẫn có thể tiếp cận được với văn chương trên sách báo vốn ê hề ngoài đời, và biết đâu, nếu có được sự hướng dẫn tốt hoặc nhờ may mắn, chúng có thể tiếp cận được nguồn văn chương đích thực. Thậm chí, nhờ biết chán cái cổ và cái cũ, chúng có thể tiếp nhận những cái mới, hoặc ít nhất, những cái đương đại một cách dễ dàng và thoải mái hơn. Ngược lại, thế hệ tôi hoặc trước và sau đó một tí, vì ngoan ngoãn, phải cố tin; và vì cố tin, dần dần tin là thật những cái hay đã thuộc về một quá khứ xa lơ xa lắc, lúc văn học, hoặc một thể loại văn học nào đó vừa mới hình thành, còn đầy những dò dẫm và ngọng nghịu. Trong chiều hướng ấy, người nào càng nhạy bén càng lún sâu vào quỹ đạo của hệ thẩm mỹ cổ điển: với nó, người ta dần dần trở thành những con người của "muôn năm cũ". Họ không còn hy vọng viết được điều gì mới, đã đành. Họ cũng khó có khả năng cảm thụ được những cái hay mới của thời hiện đại và đương đại. Nói cách khác, theo tôi, bắt học sinh phải nhồi nhét các tác phẩm văn học cổ và cũ quá sớm, người ta sẽ huỷ diệt, hoặc nếu không, cũng làm lệch lạc khả năng cảm thụ thẩm mỹ của chúng. Một nền giáo dục như thế dễ dẫn đến những kết quả hoàn toàn mất cân bằng: những người thông minh và uyên bác nhất phần lớn là những người bị trì độn về phương diện thẩm mỹ, hoàn toàn không phân biệt được cái hay và cái dở, cái mới và cái cũ. Ðiều đó khiến cho tỉ lệ những người mù-chữ-về-văn-chương trong giới trí thức Việt Nam rất cao, có lẽ cao hơn hẳn nhiều quốc gia mà tôi biết.

Khuyết điểm thứ hai của chiến lược thiết kế chương trình theo trình tự thời gian là ưu thế của tính lịch sử trên tính văn chương. Ưu thế của tính lịch sử cũng có nghĩa là ưu thế của các mối quan hệ tương tác chung quanh tác phẩm văn học trên chính bản thân các tác phẩm văn học ấy. Nói cách khác, khi nhấn mạnh vào tính lịch sử của vấn đề, người ta - ở đây là các thầy cô giáo - sẽ dễ có khuynh hướng tập trung vào việc giải thích tính quy luật trong quá trình phát triển của văn học hơn là chỉ tập trung phân tích những đặc điểm ngôn ngữ và thẩm mỹ của từng tác phẩm. Một khuynh hướng như thế khiến người ta tách khỏi tác phẩm như một văn bản cụ thể để sa đà vào các yếu tố ngoài văn bản như tác giả hoặc bối cảnh chính trị, xã hội và văn hoá chung quanh tác giả. Ðó cũng chính là thói quen giảng dạy phổ biến nhất ở các thầy cô giáo môn Văn: vào lớp, người ta thường nói rất nhiều, nói thao thao về tiểu sử và lịch sử và ngược lại, nói rất ít và rất hời hợt về các tác phẩm văn học. Như thế, cái đáng lẽ là quan trọng nhất lại trở thành cái thứ yếu; điều đáng lẽ cần làm nhất thì lại chỉ được làm một cách qua loa và chiếu lệ. Mà lỗi, thật ra, không phải chỉ ở các thầy cô giáo. Lỗi, ở ngay trong chương trình: thứ nhất, mỗi bài giảng văn chỉ được dành cho một lượng thời gian quá ít, thường chỉ có một hay tối đa là hai tiết; mỗi tiết chỉ có khoảng 50 phút; một thời gian chỉ đủ để bàn những chuyện... ngoài lề, từ việc giới thiệu tiểu sử tác giả, bối cảnh sáng tác đến việc giải thích từ ngữ khó, là hết; thứ hai, trừ các bài thơ ngắn, phần lớn các tác phẩm văn học mà học sinh và sinh viên học chỉ là các trích đoạn: chẳng hạn, học Truyện Kiều, học sinh chỉ cần phân tích vài ba trích đoạn ngắn chứ không cần biết đến cuốn Truyện Kiều; học cuốn Tắt đèn của Ngô Tất Tố, học sinh cũng chỉ học một hai đoạn trích ngắn chứ không cần đọc nguyên cả cuốn tiểu thuyết ấy. Làm thế nào để học sinh có thể hiểu được các trích đoạn ngắn ngủi như thế khi chưa đọc nguyên cả tác phẩm? Giải pháp: thầy cô sẽ giúp bằng cách tóm tắt cốt truyện. Như vậy, với học sinh, Truyện Kiều hay Tắt đèn là những câu chuyện được thầy cô kể trong lớp chứ không phải những câu chữ do Nguyễn Du hay Ngô Tất Tố nắn nót viết ra. Ở đây, cái-được-kể thay thế hoàn toàn cho cái-được-viết. Ðiều này lại dẫn đến rất nhiều hậu quả nghiêm trọng: thứ nhất, về phương diện trí thức, chúng ta dạy cho học trò thói quen nô lệ, chỉ dựa vào lời kể của thầy cô giáo thay vì phải cố gắng tiếp cận với các nguồn tài liệu gốc; thứ hai, về phương diện đạo đức: chúng ta dạy cho học sinh nói dối; dạy cho chúng thói quen nói một cách đầy thẩm quyền về những gì, thật ra, chúng chưa từng đọc; thứ ba, về phương diện văn học, chúng ta làm cho chúng hiểu lệch hoàn toàn về cái gọi là... văn học.

Chính các thầy cô giáo hiểu lệch trước: nhấn mạnh vào khía cạnh văn học sử, các giờ Văn thường có cái gì hao hao như các giờ Lịch sử hoặc các giờ Chính trị. Mà chúng lại kém hơn các giờ Lịch sử và Chính trị do thiếu tính cụ thể trong tư liệu, tính nhất quán trong lập luận và tính hệ thống trong cấu trúc môn học. Dạy như thế, chính các thầy cô giáo cũng không phát huy được năng lực cảm thụ hay ít nhất, năng lực phân tích của họ. Những ai từng đi học Văn và dạy Văn ở Việt Nam có lẽ đều dễ thừa nhận là chỗ yếu nhất của các thầy cô giáo Văn là khả năng phân tích tác phẩm như một văn bản nghệ thuật. Hồi còn ở đại học, tôi có một ông thầy nổi tiếng lừng lẫy trong giới sinh viên chỉ vì một câu nói: "Hay lắm, các anh chị ạ." Thầy dạy thơ Ðường. Hôm nào cũng thế, sau khi chép bài thơ lên bảng, giảng các từ ngữ khó, thầy lại đứng nghệch mặt ra mà trầm trồ: "Bài thơ này hay lắm các anh chị ạ. Hay.... hay... hay lắm. Các anh chị phải cố gắng hiểu cái hay của nó, nếu không thì uổng lắm. Nó hay, hay lắm, hay lắm lận." Cứ thế, trầm trồ chán thì thầy quay sang bàn về tiểu sử của tác giả hay từ nguyên của các chữ Hán trong bài. Rồi thôi. Cả năm trời học thầy, chưa bao giờ tôi thấy thầy phân tích được bất cứ một cái hay nào mà thầy không ngớt tấm tắc. Mà có lẽ không phải chỉ có thầy ấy. Phần lớn các thầy cô giáo dạy Văn đều thế: họ có thể nói thao thao về các chuyện bên lề, nhưng hiếm hoi lắm mới có một hai người có khả năng đi vào văn bản. Mà có đi thì cũng chưa chắc đã sâu. Trong lúc không có và không thể có các tài liệu xã hội học cụ thể làm bằng chứng cho nhận định này thì chúng ta có thể sử dụng một bằng chứng gián tiếp: đọc các bài gọi là giảng văn hay bình thơ mẫu của các thầy cô giáo thuộc loại đầu đàn trong ngành Văn ở Việt Nam, trong số đó, có nhiều người được xem là những nhà nghiên cứu hay phê bình xuất sắc. [4] Chúng ta cũng dễ thấy một tình trạng tương tự: kém. Họ có thể rất giỏi trong khâu tập hợp tư liệu. Họ có thể rất tài hoa trong khâu diễn đạt. Nhưng rất hiếm người tạo được ấn tượng tốt từ khả năng tiếp cận tác phẩm như một văn bản nghệ thuật. Văn bản. Mà lại là văn bản mang tính nghệ thuật. Phần lớn chỉ bàn vu vơ, tán vu vơ, khen vu vơ, chê vu vơ. Vu vơ đến độ giả dụ có ai đó chơi ác, đánh tráo bài thơ mà họ bình, dường như lời bình cũng có thể... nghe được.

Một nền giáo dục và một sinh hoạt phê bình, nghiên cứu văn học như thế góp phần củng cố một thứ văn hoá văn chương ở đó văn bản hoàn toàn bị khinh rẻ vốn đã mọc rễ trong truyền thống đề cao cái "ngôn ngoại" phổ biến ở Việt Nam ngày xưa. Trong văn hoá văn chương ấy, người ta không cần đọc từng chữ mới hiểu thơ văn; không cần dựa vào chữ nghĩa khi cãi nhau; và cuối cùng, không cần dùng chữ và đặt câu đúng khi muốn làm nhà thơ và nhà văn.

Tôi hiểu tại sao một nhà phê bình trẻ một lần khoe với tôi là cô ấy cảm thấy may mắn khi không phải học về văn học Việt Nam lúc còn nhỏ. Tôi đồng ý: may mắn thật. Ít nhất, may mắn hơn tôi: từ gần hai chục năm nay, tôi đã mất quá nhiều năng lực chỉ để gạn lọc và gột rửa những gì mình đã học trong hơn hai chục năm trước đó. Mà vẫn không sạch.

Và, tôi biết, vĩnh viễn sẽ không bao giờ sạch. Ngay cả khi tôi đã hoàn toàn quên bẵng gương mặt của người yêu đầu đời cũng như các thầy cô giáo của tôi dạo ấy, những người đã gợi hứng và khuyến khích tôi làm cả hàng trăm bài thơ dở.


Melbourne 26.10.2003

© talawas 2003


--------------------------------------------------------------------------------

[1]Một số bài tranh luận này đã được đưa lên talawas và nhiều websites khác trong nước.
[2]Hiện nay, tôi không có bất cứ tài liệu nào liên quan đền môn Văn ở cấp 2 tại Việt Nam nên tạm thời chỉ giới hạn vấn đề ở cấp 3 và đại học.
[3]Ví dụ, tại trường Victoria University, nơi tôi đang dạy, trong ngành Literary Studies, năm thứ nhất, sinh viên sẽ học môn "Ðọc tiểu thuyết hiện đại" và "Nghiên cứu về thơ và thi pháp"; năm thứ hai và thứ ba, sẽ học các môn như "Tiểu thuyết bình dân", "Văn chương của giới lao động", "Phái tính và thể loại trong truyện ngắn", "Truyện diễm tình và chủ nghĩa hiện thực", "Tái hiện đế quốc: văn chương và chủ nghĩa hậu thuộc địa", v.v... Tại trường University of Melbourne, trong ngành Literary Studies, sinh viên năm thứ nhất học các môn "Văn chương hiện đại", "Truyền thống Shakespeare"; năm thứ hai và thứ ba, học các môn "Bối cảnh văn học Anh", "Tiếng Anh cổ", "Tiểu thuyết và phim", "Chủ nghĩa hậu hiện đại", "Úc và những hình tượng thuộc địa", "Phong cách Mỹ", "Văn chương sau thời đế quốc", "Nghệ thuật / Khiêu dâm / Báng bổ / Tuyên truyền", v.v... Xin lưu ý là: a) những môn học này thay đổi khá thường xuyên; mỗi năm thường có một hai môn học mới thêm vào, thay thế cho một hai môn cũ bị rút đi; b) trong số các môn học ấy, chỉ có một số là bắt buộc; còn lại, sinh viên được tự do chọn học những môn mình thích.
[4]Xem, ví dụ, Trần Ðình Sử bình bài thơ "Ðồng chí" của Chính Hữu đã đăng trên Talawas ngày 15.9.2003.


LÀM ĂN VỚI MIỀN TRUNG

Hồ Trung Tú



Nhiều doanh nghiệp kinh doanh nước giải khát, sau những đợt tiếp thị mời uống thử miễn phí khắp cả nước, đã có một nhận xét giống nhau: Khó mời người miền Trung uống thử nhất ! Nếu người Sài Gòn hoặc Nam bộ được mời, bất kể là người lớn hay trẻ em cũng vui vẻ cầm . Người miền Bắc thì khó hơn một chút, nhưng khó như người miền Trung thì quả hy hữu. Các đại diện của Nesttea, Trung Nguyên, Icetea, Lipton... đều than trời vì sự khó tính của người miền Trung. Tiếp thị thức uống của người lớn mà chỉ có trẻ em chen nhau thử, còn người lớn quan tâm lắm cũng chỉ đứng lại xem rồi gật đầu cảm ơn khi được mời rồi cười và đi thẳng.

Thật ra, người miền Trung nói đó là người ở Quảng Nam Đà Nẵng, nơi mà các hội chợ và các đợt tiếp thị tổ chức nhiều nhất. Với địa hình trải dài, ngăn cách nhiều bởi núi đèo, ngay giọng nói của mỗi tỉnh đã mỗi khác nên tính cách của người miền Trung cũng thật khó mà  "gom" lại một mối như Nam Bộ, hoặc Bắc Bộ. Tuy vậy vẫn có cái gì đó giống nhau trên suốt cả dải khúc ruột này. Ví dụ như chuyện cái ang. Miền bắc có cái yến là 10 ký, miền nam có cái giạ là 20 ký, miền Trung có cái ang ...không ai biết là mấy ký ! Chỉ hay nó thường là 30 lon sữa bò, thật ra thì có nơi chỉ 26 lon, 28 lon, có nơi là 32 lon, 36 lon. Ngay bản thân cái lon cũng có lon đáy bằng, lon đáy lõm. Cách đong cũng có nơi đong gạt bằng miệng lon, co nơi lại đong vun đầy hết cỡ. Không phải chỉ chuyện cái ang đong gạo là cái thứ sát sườn hằng ngày đã rất không thống nhất, các thứ khác cũng vậy, hầu như chẳng có cái gì làm chuẩn. Nếu miền Bắc, miền Nam cái cân được sử dụng để cân từ rau hành đến cá, thịt thì ở miền Trung tất cả đều được định bằng mớ. Mớ cá nục là 12 con, không cần biết con lớn hay con nhỏ, chỉ đôi mắt "kinh nghiệm" mà định giá rồi trả. Con gà con vịt cũng vậy, không cân mà cầm trên tay nhắc nhắc mấy cái, bóp bóp cái lườn mà theo giá rồi trả. Thế mới có chuyện vui, một bà bán lươn không dùng cân mà đong lươn bằng lon. Đong một lon lươn đầy, lấy tay gạt ngang vẫn còn một cái đầu lươn ngóc lên. Gạt lần nữa cái đầu vẫn ngóc lên, bà bán lươn mới bảo: "Thôi , thêm cho chị cái đầu. Rẻ rồi đó !". Mấy cô dâu ngoài Bắc hoặc Nam về Trung, ban đầu than trời vì cách mua bán chẳng cần đo lường này. Riết rồi đến khi quen, thấy cái cân đâm lạ lạ, ngàn đồng hành lá mà cũng cân thì trông nó lạnh lùng quá, các bà các chị bảo thế.

Không phải chỉ chuyện cân đong đo đếm người miền Trung có cái cách chẳng giống ai mà ngay chuyện mua bán kinh doanh "tiếp thị" của các bà, các chị, và cả các ông nữa, nó cũng chẳng giống ai. Một lần tôi dừng xe bên lề đường trước chợ để mua bó chè xanh. "Bà bán con bó chè xanh". Tôi lặp lại câu ấy ba lần bà già vẫn cứ tỉnh bơ nhìn mọi người qua lại. Một cô gái bán rau bên cạnh mới cười đứng dậy cầm bó chè đưa tôi rồi bảo, lần sau anh mua thì dựng xe bước vào. Đứng trên xe thế này bà cụ không ưng. Không phải chỉ mấy bà già không lấy chuyện đồng lời làm trọng, chỉ lấy chuyện bán mua làm vui, mua bán cũng phải có trên có dưới ; ngay cả một cửa hàng trên phố cũng một cái tính cách bất cần như vậy. Cách đây chừng hai năm, trên đường Phan Châu Trinh của thành phố Đà Nẵng, có một dãy phố chuyên kinh doanh việc in ấn. Mọi chuyện kinh doanh êm đẹp bỗng đâu một người trương lên tấm bảng "Đại hạ giá in thiệp mùa cưới".  Vậy là hàng loạt cửa hàng khác cũng phải treo bảng "đại hạ giá" theo. Một chủ hàng dân Quảng Nam gốc hình như tức mình mới treo lên tấm bảng " Đại lên giá" ! Cái hay của vấn đề chính là cái chỗ cửa hàng "đại lên giá" ấy lại đắt khách hơn các cửa hàng "đại hạ giá" khác ! Sau khi lặp lại trật tự lề đường, tấm bảng ấy bị công an tịch thu mất chứ không chắc đến nay cũng vẫn còn.

Người miền Trung nói chúng chúa ghét chuyện mời mọc. Người Bắc thì cho đó là dòn giã, đon đả, người Nam thì cho đó là nhiệt thành, lôi cuốn và sự mời mọc thường đem lại kết quả. Người miền Trung thì thường bỏ qua cửa hàng, gian hàng nào mời mọc "dai như đỉa".

Còn nhiều lắm những chuyện trái khoáy như vậy ở vùng Quảng Nam. Ví dụ như chuyện bát đường đen, người quê gọi là đường táng. Bát đường đen thui vì chế biến bằng phương pháp rất thủ công, thủ công đến mức có lẽ hai ngàn năm trước cũng làm đường mía như thế chứ không thể lạc hậu hơn được. Thế mà người ta vẫn cứ giữ cách ép mía, nấu đường cũ kỹ ấy, mặc cho các phương pháp chế biến mía đường của người Quảng Ngãi ở sát nách đó đã vô cùng tinh xảo, cho ra hàng chục sản phẩm cao cấp như đường trắng, đường phèn, đường phổi...

Kể ra hàng loạt các chuyện trái khoáy của người Quảng Nam như thế thật ra cũng dễ nhưng xâu chuỗi nó lại, khái quát nó lên nhằm nhắc nhở các doanh nghiệp khi đến làm ăn ở vùng này cần phải lận lưng làm vốn thì quả là khó. Đó là tính cách gì vậy ? Bảo thủ, lạc hậu ư ? Hỏng phải đâu, xin đừng quên đây là quê hương của phong trào Duy Tân, canh tân đất nước hồi đầu thế kỷ 20. Và đây cũng là quê hương của các cuộc phá rào làm khoán chui của những năm sau 1980 để đưa đến công cuộc đổi mới hiện nay. Đó là tính khí khái của các ông đồ miền Trung ư ? Có thể, cái làng ở miền Trung còn chặc chẽ lắm, miếng thịt làng bằng sàng thịt bếp, chính cái tôi cá nhân trong cộng đồng quan trọng hơn cái tôi cá nhân đích thực mà con người ta sẵn sàng nín nhịn, chịu thua thiệt để giữ gìn nó. Còn sự bảo thủ lạc hậu thì nói không vậy thôi chứ thật ra thì thế này, người miền Trung còn xa lạ lắm một nền văn minh giao tiếp sang trọng, quý tộc. Ông bạn tôi người Quảng Nam giàu có lắm ở đất Sài Gòn mấy chục năm nay, nhưng đến ăn nhà hàng nào có nhân viên phục vụ đứng kề bên là ông chịu, ăn không vô.

Nói như vậy cũng chẳng rút ra được điều gì. Nghe mấy ông bạn kinh doanh nước giải khát than trời vì nước pha ra không ai uống ông già Nguyễn Văn Xuân mới bảo: "Sao không biếu người ta gói nhỏ về nhà pha uống thử, cứ gì phải đứng uống như đói khát lắm giữa đường giữa chợ như vậy !". Hà ! Thì ra là thế. Chưa thấy ai làm thử nhưng câu nói của lão già Xuân ấy làm rõ mọi chuyện. Các doanh nghiệp khi đến Quảng Nam, Đà Nẵng hãy cứ nhớ như vậy, đừng bảo nhân viên mời mọc hoặc đi theo khách hàng phục vụ họ bất cứ việc gì, các cánh cửa kính ngó đẹp vậy chứ là vật cản khách hàng đó. Mới đây một cửa hàng thời trang Lega trên đường PCT ở Đà nẵng sau 2 năm mở cửa đã phải dẹp tiệm chính bởi cái cửa kính nặng ì ấy. Đó là ý bà xã người viết bài này, tầm cỡ "chuyên gia" mua sắm, nhưng thấy cái cửa kính thì thường né.

Mẹ tôi, một bà già Quảng Nam chính gốc, thì bảo: "Làm cho ai việc gì chớ bao giờ kể công. Ai chịu ơn cũng mong có ngày được trả. Người ta chưa trả mà đã vội nhắc, kể công một tiếng là đổ sông đổ biển hết đó, là bạn trở thành thù đó ". Đó là cá tính của người Quảng Nam hay cũng là tính khí chung của người Việt mình ? Thật khó mà biết, thôi thì cứ tạm gọi, thấy đâu nói đó như vậy trong khi chờ đợi các nhà nghiên cứu văn hóa địa phương học tổng kết được điều gì. Thế mới hay cái lý của người Nhật trước khi quyết định đầu tư vào đâu thường cho các nhà nghiên cứu đi trước, quỹ Toyota Foundation là một ví dụ. Không để ý những điều này, thất bại như cửa hàng hàng Lega nọ thì thật tiếc.


Hoài niệm Hội An

Nguyễn Tường Bách



Tôi náo nức trở lại Hội An, thành phố cổ.

Bốn mươi năm trước, tôi đã đến đây. Ấn tượng ngày xưa của một cậu bé tiểu học vốn mau mờ nhạt trước sự thay đổi nhanh chóng của tuổi thiếu niên. Do đó, Hội An chỉ đọng lại trong tôi với chiếc Chùa Cầu. Đối với tôi, Chùa Cầu thật lạ, chùa nào mà nằm ngay giữa phố, lại bắc qua sông, chùa phải xa chợ! Bốn mươi năm trước, đến Chùa Cầu Hội An tôi đứng tần ngần trước tượng thần khỉ ở đầu cầu, có ai vừa thắp một nén hương. Ngày đó tôi đã biết Hội An là một thành phố cổ, ngày xưa nơi đây tấp nập những thuyền bè nước ngoài. Nhưng ai đã dựng xây Chùa Cầu và nhất là tại sao chùa nằm ngay giữa phố, tôi tự hỏi.

Bốn mươi năm qua là một thời gian kỳ lạ của lịch sử, trên thế giới và trong lòng đất nước. Nếu hai mươi năm đầu còn mang năng dấu vết của thù hận, chiến tranh và ý thức hệ thì hai mươi năm sau, như nhờ một phép lạ, mọi tranh chấp và chiến tranh nóng lạnh hầu như chấm dứt. Hòa bình trở lại tại Việt Nam. Tại phương Tây, bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 đánh dấu một khúc ngoặt của sự tranh chấp Đông-Tây và mở ra một kỷ nguyên mới của sự toàn cầu hóa. Hai mươi năm qua cũng đánh dấu một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử con người, đó là sự di dân với qui mô lớn từ nước này qua nước khác, từ lục địa nay qua lục địa khác. Hàng trăm ngàn người đi từ Đông Âu qua Đức, từ Bắc Phi qua Pháp, từ Việt Nam qua Mỹ, từ Pakistan qua Anh, từ Tây Tạng qua Ấn Độ... Phương tiện giao thông và khả năng thông tin hiện đại đã làm trái đất trở nên nhỏ bé. Ngày nay, con người lên đường đi định cư tại một nước khác dĩ nhiên cũng có chút phiêu lưu mạo hiểm nhưng không khác gì lắm nếu so với trăm năm trước dân quê bỏ lũy tre xanh lại đằng sau. Họ lên đường tìm cuộc sống một nơi xa lạ, đó là những người được mệnh danh là "kiều dân".

Kiều dân không phải chỉ trong thế kỷ hai mươi mới có. Tôi khám phá ra một cách thú vị và muộn màng rằng, từ thế kỷ thứ 16, Hội An là nơi kiều dân Nhật Bản và Trung Quốc đã sống. Khoảng năm 1560, người Nhật đã đến đây giao thương, có người ở lại lâu dài. Tại Trung Quốc, khi nhà Thanh thắng lợi, con cháu nhà Minh cũng bỏ xứ ra đi và lưu lạc đến tận Hội An, tìm nơi đây là quê hương mới của mình. Thì ra dân Việt không chỉ sản sinh kiều dân Việt Nam sống nhiều nơi trên thế giới, chúng ta cũng đã cưu mang kiều dân nước khác từ nhiều thế kỷ trước. Cách đây vài trăm năm những con người lưu lạc đó đã chân ướt chân ráo qua đây, mang theo thuyền gỗ, súng đồng, sản phẩm cao cấp như tơ lụa và đồ sứ để buôn bán làm ăn, nhất là cả một vốn liếng văn hóa và kiến trúc.

Câu hỏi ngày xưa xem ra đã có câu trả lời. Chùa Cầu có lẽ do thương nhân người Nhật xây dựng khoảng thế kỷ thứ 17, khi họ xem Hội An là một trong những nơi dừng chân ít ỏi, là nơi họ sinh cơ lập nghiệp và hội nhập với người bản xứ. Chẳng thế mà Chùa Cầu có tên là Cầu Nhật Bản. Cũng vì thế mà người Nhật sẵn sàng bỏ tiền ra trùng tu Chùa Cầu khi kiến trúc này xuống cấp. Người Việt thuyết minh kể một cách hãnh diện rằng năm ngoái năm kia, một đoàn nhà sư Nhật đã đến Hội An để thăm mộ tổ tiên và "trấn huyệt" cho cà xứ Nhật vì khe nhánh sông Thu Bồn ngay tại Chùa Cầu nằm ngay trên lưng một con thủy quái khổng lồ. Con vật này có tên tiếng Nhật là Mamazu, đầu nằm ở Nhật, đuôi ở Ấn Độ. Nhờ các nhà sư trấn huyệt mà linh vật bớt vẫy đuôi, nước Nhật năm đó bớt bị động đất. Dáng phục thay các nhà sư già, họ không quản đường xa khó nhọc, họ làm tất cả vì tiền nhân và xã tắc của họ.

Cách Chùa Cầu vài trăm mét, khách có thể tham quan vài ngôi chùa của các bang hội người Hoa. Trong chủa họ thờ vị nữ thần Thiên Hậu Thánh Mẫu năm xưa đã phù hộ cho họ vượt biển an toàn. Chùa được bảo quản vô cùng chu đáo, tượng nữ thần hiện trên đầu sóng hết sức uy nghi. Bà con trong bang hội phần lớn nay đã xa xứ làm ăn, người giữ chùa cho biết. Họ đi xa, Hội An đâu phải chỗ làm ăn, người ra nước ngoài, người về cố hương. Người giữ chùa kể, nét mặt không dấu được nỗi buồn của người ở lại đơn chiếc. Nhưng họ hãnh diện và biết ơn tổ tiên, họ gửi tiền về để chăm sóc giữ gìn nơi thờ tự trang nghiêm sạch sẽ.

Nhắc lại người Nhật, người Hoa của vài trăm năm trước, tôi bỗng nhớ đến thân phận của những người được gọi là Việt kiều hiện nay đang lưu lạc trên toàn thế giới. Những vấn đề của ngày xưa hẳn không khác ngày nay. Chắc những người Nhật người Hoa đó cũng trăn trở lắm điều, cũng thực hiện một cách khó khăn phương châm "vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa hội nhập với người bản xứ". Nhiều người trong số họ đã kết hôn với người Việt, con cháu họ chỉ còn nói được tiếng Việt và bị cha mẹ la rầy. Họ cũng ngóng trông quê hương của mình, là "giọt máu rơi" của tổ quốc họ. Rồi cũng đến ngày, họ cũng có cái đau xót bỏ thân nơi xứ lạ quê người. Nhưng họ không bao giờ ngờ, vài trăm năm sau, sẽ có một ngày mà một đoàn nhà sư già sẽ đến cầu siêu cho mình và hành đoàn con cháu sẽ đến viếng lăng mộ của mình.
alt
Tôi vào lại Chùa Cầu, tìm đâu là nơi thờ cúng mà ngày xưa tôi do ham đứng xem tượng thần khỉ, thần chó không chịu vào lễ bái. Án thờ trưng hình vị Bắc Đế Trấn Vũ, xung quanh đầy bụi bặm. Ảnh thờ cong queo khô rốc, lạnh tanh. Thấy cán bộ hăng hái bán vé tham quan, tôi hỏi tại sao không ai lau bàn quét bụi trên án thờ và không nghe tiếng trả lời. Chỉ cách chùa người Hoa mấy trăm mét mà sự chu đáo hai nơi khác nhau một trời một vực. Trên bàn cạnh án thờ, người bày bán một xấp tranh lụa vẽ vời cẩu thả. Sau án thờ là chỗ sinh hoạt của cán bộ phụ trách tham quan, một bàn cờ tướng còn đánh dở. Bụi bặm này làm tôi nhớ đến các nơi thờ tự trong lăng tẩm xứ Huế, ở đâu cũng đóng bụi như nhau. Con cháu Nguyễn tộc ở đâu cả ? Trên án thờ Chùa Cầu, không hề có một nén hương thơm, phải chăng tại vì vị Bắc Đế Trấn Vũ là người Hoa hay do ta đã mất thói quen thờ cúng ? Hay tại vì cán bộ đang mải xem ai là người nước ngoài để bán vé lấy gấp mười lần ?

Tôi đứng lại trước tượng thần khỉ thần chó. Bây giờ tôi mới biết hai vị này cũng là linh vật, đứng nơi đây để "yểm" thủy quái Mamazu. Thắp một nén hương để nhớ công ơn hai vị và cũng để nhớ ngày xưa, chiêm nghiệm về thời gian và những điều dâu bể. Ôi, bốn mươi năm trôi qua. Bây giờ tôi cũng là kiều dân, sống nhờ trong một nước khác. Dưới chân cầu hầu như không có nước chảy. Trên thế gian bao nhiêu điều đã diễn ra. Nhiều điều trọng đại đã thay trời đổi đất, đã mở kỷ nguyên mới cho đất nước, đã đổi đời cho một số lớn người. Nhưng cũng có một số người khác, vì hoàn cảnh riêng, cũng phải di tản ra nước ngoài làm kiều dân, như những người Nhật năm xưa đã xây dựng ngôi Chùa Cầu này, hỡi thần thức hai vị.

Kiều dân người Việt ngày nay sống khắp thế giới, con số có thể lên đến ba triệu người. Họ có để lại dấu vết văn hóa gì trong các nước sở tại hay không, điều đó thời gian sẽ trả lời. Còn tôi thì tôi không mấy tin tưởng. Dù có rất nhiều bằng cớ về sự thành công của người Việt Nam ở nước ngoài, tôi vẫn thấy đau đáu điều gì về kiều dân người Việt. Họ dứt khoát không phải là những người đầy tự tin và có nhiều ảnh hưởng như người Nhật, người Hoa ngày trước. Trên đường phố xuôi ngược ở nước ngoài, nếu cứ thấy người châu Á, mặt mày đăm chiêu, tò mò đi lại gần nghe thử tiếng nói thì ta thấy, y như rằng, đó là người Việt Nam. Họ là những con người làm đủ thứ nghề, nhưng vốn ít, chí nhỏ, sống nội tâm, thiếu đoàn kết. Lịch sử gần nửa thế kỷ qua của dân tộc dường như dạy cho họ một bài học, tồn sinh được qua ngày là may mắn lắm rồi, tất cả mọi sự khác là xa xỉ. Kinh nghiệm lớn nhất của họ dường như là, đừng hợp tác với ai, đừng làm điều gì lớn lao, chỉ thất bại thôi. Họ không hề có tâm lý mở đường như kiều dân nước ngoài ở Hội An mà ngược lại, một phần trong số họ nghĩ mình là những người cùng đường. Làm sao đòi họ làm một điều gì để đời, vượt thời gian?

Điều chắc chắn là họ nhớ quê hương và biết đâu là "chốn để về" của mình. Nhưng họ đã lỡ quen nghi ngại nhau nên sẽ không có những công trình văn hóa đồ sộ, những bang hội lớn lao, những sự hợp tác tầm cỡ. Họ quen chôn những điều ấp ủ đó ở trong lòng. Vài mươi năm nữa, con cháu họ chắc sẽ không còn ai chịu quét tước đền chùa, hoài niệm nhắc nhở lịch sử di dân của cha ông hồi xưa và các thánh thần đã một thời phù hộ.

Nếu họ có về thăm nước, thấy bàn thờ phủ đầy bụi bặm, họ sẽ thấy hình ảnh quen thuộc, chẳng có gì đáng trách. Và người thuyết minh vẫn kể một cách hãnh diện, có một đoàn nhà sư người Nhật...

6.1996

Ông PHẠM NHỮ TĂNG và CUỘC BÌNH CHIÊM NAM TIẾN

Mấy năm trước đây, tôi có đọc một đặc san Đất Quảng viết về Danh nhân xứ Quảng, có tên Ông Phạm nhữ Tăng. Một dòng ngắn giới thiệu ông là một công thần khai quốc. Vậy tôi xin viết về ông với một số chi tiết dựa trên gia phả giòng Họ Phạm ở xã Phú Hương quận Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ông Phạm nhữ Tăng không những có công mở mang bờ cõi, mà còn liên hệ đến sự khai sinh vùng đất Quảng Nam Đà Nẳng của chúng ta ngày nay. Xin cống hiến qúy bạn đọc bài viết về Ông Phạm nhữ Tăng và cuộc Bình Chiêm Nam Tiến.

Nghĩa Sĩ Uẫn Mưu Cơ, Hiệp Lực Nhất Tâm Bình Chiêm Quốc
Miếu Đài Khai Tráng Lệ, Hương Hồn Thiên Cổ Hiển Nam Bang.


Xin tạm dịch:

Nghĩa sĩ đủ cơ mưu, chí cả một lòng bình nước Chiêm
Miếu đài xây tráng lệ, hồn thiêng muôn thuở rạng trời Nam.

Đây là câu điếu văn của vua Lê Thánh Tông tặng, được khắc trên bia mộ ông Phạm nhữ Tăng (1479.) Nhà vua đã thân hành đến ngự linh cữu ông khi được đưa về an táng tại xứ Bàu Sanh, làng Hương Quế, nay thuộc xã Quế Phú huyện Quế sơn tỉnh Quãng Nam.

Ông Phạm nhữ Tăng sinh vào năm 1421, con của ông Phạm nhữ Dự. Ông Phạm nhữ Dự có công giúp vua Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, được phong Cáo Thọ Tập Phước Hầu, lệnh lưu trấn Thăng Ba phủ. Ông Phạm nhữ Dự bị bịnh mất, hưởng thọ 82 tuổi. Vua Lê Thái Tổ ai vãn câu đối sau đây:



Thiên điạ thử gian hoàn cựu vật

Giang sơn chung cổ biểu tiền công



Xin tạm dịch:



Trời đất thuở này hoàn vật cũ

Nước non muôn thuở rạng công xưa.

Vào năm Ất Sửu đời vua Nhân Tông niên hiệu Đại Hòa năm thứ ba (1445) ông Phạm nhữ Tăng thi đỗ đệ nhị Điện Hoằng Từ Khoa, được phong làm Thái Bảo, kiêm Tri Quân Dân Chính Sự Vụ.

Đến năm vua Quang Thuận thứ bảy, (1467) được ban sắc tặng Ông làm Phụ Chánh Tham Tướng Phủ, Quãng Dương Hầu, Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự.

Đời Hồng Đức thứ 2, mùa xuân năm Tân Tỵ, (1471) vua Lê Thánh Tông hạ chiếu đình thần, nghị luận việc khai thác biên cương và Di Dân Nam Tiến.

Vua hạ sắc phong Ông Phạm nhữ Tăng làm Trung Quân Đô Thống, lãnh ấn Tiên Phong, Thự Đỗng Nhung, Chưởng Thập Đạo Tinh Binh Tiết Chế Thủy Lục Quân. Vua ban Ngự tửu và gắn Hàn Lâm Viện Học sĩ chương. Ngài dẫn đạo tiền phong, phát pháo hưng binh, mở thành môn thượng đại kỳ (Cờ vuông trong đỏ, ngoài viền vàng, có thêu bốn chữ “ BÌNH CHIÊM HƯNG QUỐC” ) Và vua Lê thánh Tông ngự giá hậu tập.

Đại binh (hơn 20 vạn,) vào đến Thuận Hóa, dừng lại luyện tập rồi mới tiến quân vào Chiêm Động và Cổ Lũy. Nguyên văn sắc phong,

ĐIỆN TIỀN SẮC HẠ

Chiếu Dụ chỉ sở, báo đạo các khoản:

Những tiên Chiêm Thành dử ngã quốc kỳ hiệp bang giao hữu đặt Sứ thần, y quốc thường niên cống nhập thỉnh sự cầu hòa. Hiện kim, Chiêm Thành phãn nghịch, hành quân loạn động. Vu Thập Nhị Thừa Tuyên Công thần Phạm nhữ Tăng tuân lệnh. Nguyên Cai Phụ Chánh Tham tướng sự, Quảng Dương Hầu “THẦN” văn võ toàn tài, thông bửu chiếu chỉ “THẦN” tuân lệnh. Lãnh Trung Quân Đô Thống Thự Đổng Nhung lãnh ấn tiên phong, chưởng thập đạo tinh binh, chế thủy bộ lục bị quân trang tự Thuận hóa Thừa tuyên chỉ nam Chiêm Thành Nam hoa, Cổ Lũy địa, trừ nghịch lộ tảo tán quân Chiêm loạn. “KHANH” tận kỳ trung báo quốc, tận kỳ nghĩa sự quân, hà hữu công tắt thưởng, hà hữu tội tắt trừng.

Xin tạm dịch

Lệnh vua ban ra, gồm các khoản:

Những năm trước đây, nước Chiêm Thành đã có bang giao với nước ta, và đặt Sứ thần, hàng năm có triều cống giãng hòa. Bây giờ, nước Chiêm Thành phãn nghịch, đánh phá nhiều nơi. Nay công thần Phạm nhữ Tăng đang tại chức Phụ Chánh Tham Tướng Phủ, tước là Quảng Dương Hầu; “Ngươi” văn hay võ giỏi, hãy nhận lệnh nhậm chức Trung Quân Đô Thống Thự Đỗng Nhung, dẫn đầu 10 đạo quân tinh nhuệ. Lệnh lãnh đạo tất cả hải lục quân và hãy lo trang bị quân trang quân dụng, từ Thuận Hóa (Thanh Hóa) trực chỉ hướng Nam vào đất Cổ Lũy của Chiêm Thành, tiêu diệt quân Chiêm phãn loạn. Nhà Ngươi phải hết lòng vì nước, hết tình vì quân. Nếu có công được thưởng, nếu có tội ắt bị phạt.

THÁNH MẠNG ĐIỆN CHIẾU
Thần, Phạm nhữ Tăng tuân mạng lệnh
Hồng Đức nhị niên, tam nguyệt, thập bát nhựt
(Hồng Đức năm thứ hai, tháng ba, ngày mười tám)
ĐẠI ẤN: Chế Mạng Chi Bửu.

Ông lãnh ấn tiên phong, dẫn quân vào Chiêm Động (Quảng Nam, Thăng Bình ngày nay), Cổ Lũy (Quảng Nghĩa) và nhà vua ngự giá thân chinh. Quân nhà Lê tiến vào cửa Thị Nại (CRIBANOY) vây hạ thành Đồ Bàn, bắt sống Chiêm chúa là Trà Toàn. Tướng Chiêm Thành là Bồ Trì Trì, chạy vào Phan Lung (PANDURANGA) xưng Chúa, và dâng sớ lên triều đình ta, xin cống hiến. Lấy xong thành Đồ bàn, vua hạ lệnh tiếp tục di dân từ Thanh, Nghệ Tĩnh vào Nam cho đến sông Phan Rang.

Sau khi chiếm được thành Đồ Bàn, vua trú lại Quãng Nam thừa tuyên, để thiết lập Quãng Nam Đô Thống Phủ, ngay tại thành Đồ Bàn (thành Bình Định)

Thừa phụng chỉ, Ông Phạm nhữ Tăng lưu trấn tại thành Đồ Bàn, dựng lên nền hành chánh và chia từ đèo Hải vân trở vào làm sáu phủ: Thăng Ba, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn, Phú An, Thái Ninh và Hàm Thuận hoàn toàn trực thuộc Quãng Nam Thừa Tuyên.

BỘ MÁY CAI TRỊ

Ông đặt ra các phòng sở để cai trị từ hành chánh đến quân sự gồm có:

Thừa chánh sử ty: do Ngự sử xem xét về việc hành chính. Viện Hiến sát sử ty: coi việc hình sự (an ninh). Đô tổng binh sử ty: coi việc binh lính. Chức chưởng các cơ quan đều được quy định rõ ràng. Ông chiêu mộ nhân dân khai thác Thăng ba phủ, lập xã Hương Lư (nay thuộc huyện Thăng Bình) và bắt đầu khai địa tịch (sổ ruộng đất) ở Ngũ Hương. Ngũ Hương tức 5 làng gồm có: Hương Quế, Hương Lộc, Hương An, Hương Yên, và Hương Lư...(Nay thuộc xã Quế Phú huyện Quế sơn Quãng Nam) Ông Phạm nhữ Tăng lưu trấn ở thành Đồ Bàn sáu năm. Mùa xuân năm Hồng đức 8 (1478) ông bị bịnh và từ trần ngày 21 tháng 2 đời Hồng đức thứ 8, hưởng thọ 57 tuổi.

Khi hay tin ông bị bệnh, vua Thánh tông đã cho Thái y đến nơi chăm lo thuốc thang, nhưng bệnh mỗi ngày thêm trầm trọng đến giờ tuất thì từ trần.

Quân tốc báo về triều, vua Hồng Đức lấy làm thương tiếc, bèn hạ chiếu chỉ rằng:

“Công thần khai quốc, tịch sự tam triều huân vọng, vị triều đình ỷ trọng, xã tắc an nguy, tại “KHANH” số nhơn kiệt nãi, tâm lực kỳ dư vu trị, chí nhựt thọ bệnh nhi chung. “TRẪM” tại bá kỳ phi tâm hoảng ốc. “KHANH” đẳng thời quyền đới nghĩa khí vu tư, vị cập thù công kịch đương dĩ quốc vi niệm,” TRẪM” sở thâm vọng chi tình “KHANH” cự thượng giả trung đặc thân giả chánh, đàn tịch tả hửu vu tư, lục niên ái quốc chi trung, tử nhi hậu dĩ”

Xin tạm dịch,

Là một người có công mở mang bờ cõi, phục vụ ba triều, đã vì triều đình coi trọng, vì đất nước an nguy, nhà Ngươi số sống đã tận, sức cùng không chửa được, thọ bệnh mà chết. Ta đây tâm lòng không yên. Ngươi khi sống vì nghĩa mà vô tư, vì nước mà ra sức. Ta đối với Ngươi tình rất nặng tình, sáu năm vì yêu nước mến vua, nếm mật nằm gai, con cháu ngày sau thừa hưởng.

Di hài của Ông được khâm liệm, và mộ Ông được an táng tại Trường Xà Thành, nay thuộc quận An nhơn, cách thành Bình Định 6 km về phía tây. Vua hạ chiếu đặt bàn thọ chế 21 ngày. Sáu tháng sau, nhà vua sai Thái lý về quê quán ở làng Hương Quế, tìm huyệt để làm lễ đại táng. Địa lý tìm được huyệt tốt tại xứ Bàu Sanh làng Hương Quế, bèn lập sớ dâng lên vua. Huyệt ấy gọi là “Lục Long Tranh Châu” có tiền án hậu chẫm, có tả Thanh long, hữu Bạch hỗ, và phía trước có Minh đường thủy tụ. Vua y cho, và giáng chiếu cho lục bộ quan viên vào Trường Xà Thành khai quật hài cốt lên đại liệm vào hòm sành, và sắp đặt việc cử hành lễ di quan về quê. Nhà vua ngự vào tận huyệt coi việc trị táng. Ngài cũng cho thợ xây lăng mộ và trích trí khuê điền một mẫu bảy sào giao hồi xã dân phụng tự. Đức vua gia phong là Hoằng Túc Trợ Võ Oai, Đặc Tấn Phụ Quốc, Quảng Dương Hầu, Phạm quý Công Đại Phu.

NGUYÊN VĂN SẮC PHONG

NGỰ TIỀN THÔNG BỬU SẮC PHONG
Cai tá vạn Lê Triều Phụ Chánh Tham Tướng Phủ Dực Bảo Trung Hưng Phạm Nhữ Tăng

PHỤNG THÁNH CHỈ

Trung quân Đô Thống lãnh ấn tiên phong, thự Đỗng Nhung chưởng thập đạo tinh binh thủy lục bộ thiết bị quân trang, bình Chiêm phản loạn đoạt Đồ Bàn thành. Di dân chí Thái Ninh Hàm Thuận. Hiện kim, thập tam thừa tuyên công, Thần hữu công đức tài bồi sáng nghiệp, khai thác biên thùy. Thần Quý Công thệ thế, điện tiền ái mộ, quân thần tận nghĩa vị quốc tận trung, hoàn thành nghĩa vụ.

BAN LIÊM NGHĨA SĨ.

TRIỀU NGHỊ GIA PHONG:

Hoằng Túc Trợ Võ Oai, Đặc Tấn Phụ Quốc, Quảng Dương Hầu, Phạm Quý Công Đại Phu.Khâm phong Sắc thần sách Minh Bửu. Hồng Đức, bát niên, ngũ nguyệt sơ lục nhựt.
ĐẠI ẤN: Chế Mạng Chi Bửu.

Với tổ quốc Việt Nam, ông Phạm nhữ Tăng là một vị công thần. Là con cháu chúng tôi lấy làm hãnh diện, nhưng nhìn lại về mặt lương tâm, ôi Chiêm Quốc nay còn đâu? Một dân tộc có văn hóa, có lịch sử đã để lại biết bao nhiêu kỳ quan. Chúng ta hãy bình tâm mà suy gẫm, đâu có phải là ít. Những cái tháp Chàm ngày đêm đang buồn rầu ủ rủ, khóc thương từng viên gạch, trên gò vắng Bằng An, hay thung lũng Mỹ Sơn. Một số khác xiêu vẹo đổ nát, gãy đứt oằn oại trong rừng núi với 300,000 người sống rải rác ở miền Trung nước Việt? Trước cảnh bể dâu ấy, ai mà không ngậm ngùi cho người dân Chiêm quốc. Nhiều khi nghe những khúc hát của dân Chiêm, như ai oán như tủi hờn, như trách móc còn văng vẳng đâu đây...

Rừng hoang vu! (Hận Đồ Bàn)
........
Ngàn muôn tiếng âm
Tháng, năm buồn ngân...
Âm thầm hòa bài, hận vong quốc ca.
Người xưa đâu?
Mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu.
Lầu các đâu?
Nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu.
Đồ Bàn miền Trung đường về đây...
Máu như loang thắm chưa phai dấu
xương trắng sâu vùi khí hờn căm...khó tan....
Kìa ngoài trùng dương đoàn thuyền ai nhấp nhô trên sóng xa xa tắp!
Mơ bóng Chiêm thuyền Chế Bồng Nga...
Vượt khơi

Về kinh đô
............

Đồ Bàn miền Trung đường về đây...
Máu như loang thắm chưa phai dấu
xương trắng sâu vùi khí hờn căm...khó tan.
Kìa ngoài trùng dương đoàn thuyền ai nhấp nhô trên sóng xa xa tắp !
Mơ bóng Chiêm thuyền Chế Bồng Nga...
Người xưa đâu ?

hay,
Vua tôi dân Việt tươi cười,
Người Chiêm vong quốc, khổ đời nào khuây....?

Phạm đào Nguyên biên soạn (Những phần tạm dịch, thật không mấy suông, xin qúy vị miễn chấp cho )

PHƯƠNG NGỮ QUẢNG NAM

Một cách khái quát, ngôn ngữ nói của người Quảng Nam có một số phương ngữ trùng hợp với phương ngữ của nhiều tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng. Đó là các từ ngữ như ở mô (ở đâu), đằng tê (đằng kia), cái chi rứa (cái gì vậy), con khọn (con khỉ), xa ngái (xa lắm)…

Đất Quảng Nam phần lớn là rừng núi và vùng bán sơn địa, nhiều sông suối đèo dốc nên địa hình khá hiểm trở. Tổ phụ của người Quảng Nam phần lớn là người Thanh Hóa, Nghệ An. Trên 500 năm trước, theo bước chân của vua Lê Thánh Tông, năm 1471, họ về phương Nam khai phá đất đai, lập làng mới. Những người đến trước thường chiếm vùng đồng bằng ven biển bởi đất đai ở đây dễ khai phá hơn. Những người đến sau phải đi dần lên vùng bán sơn địa và miền núi. Lịch sử của con người nói chung và của con người Quảng Nam nói riêng là phát triển từ Đông sang Tây. Đông là hướng biển, Tây là hướng rừng núi Trường Sơn.

Trước năm 1975, phương tiện giao thông chưa có nhiều, phương tiện truyền hình phát thanh lại càng hiếm. Người ta ở đâu thì ở đó, ít đi lại với nhau, ít nghe nhau nói. Có người suốt đời không có dịp đi ra khỏi làng mình. Họ nói thứ ngôn ngữ mà tổ phụ và bà con chung quanh thường nói. Địa hình hiểm trở khiến ngữ thanh của từng địa phương nhỏ cấp huyện, xã, thôn rất khác nhau. Chỉ trong một địa bàn Quảng Nam, những bà con vùng nguồn nói vùng biển chưa chắc đã nghe được.

Tôi nhớ có một ông ở Sơn Lãnh (Quế Sơn) gánh nồi đất xuống tận chợ Bàn Thạch (Duy Xuyên) bán. Buổi trưa nóng nực, chợ chưa đông, ông ngồi than thở với cha tôi;

- Tôi ở Sơn Lãnh, đi qua Sơn Thạnh xuống đây bán nồi đất. Chưa bán chi được mà nó trợt cái oách, bể hai cái trách một cái vung.

Ông nói rất nhanh, đặc biệt khi phát âm các từ có vần A như Lãnh, Thạnh, bán, đất, oách, trách thì ngữ thanh rất gần với ngữ thanh của bà con Thanh Hóa. Sau này có dịp thâm nhập, tôi mới biến bên kia đèo Le của Quế Sơn có những làng mà tổ phụ là người Thanh Hóa. Bởi quần cư sau một ngọn đèo hiểm trở, điều kiện đi lại khó khăn nên bà con ít khi đi khỏi làng mình. Sự giao lưu ngôn ngữ không có nên có những âm rặt của người Thanh còn được giữ lại dù bà con đã sống giữa lòng Quảng Nam trên 500 năm.

Bà con vùng Tiên Phước phát âm những chữ có vần Ôi thường cho ra âm vị Oôi rất dễ thương. Nếu bạn may mắn gặp được một cô gái Tiên Hà xinh đẹp phát âm những âm vị này, e rằng bạn khó bỏ xứ Tiên Phước mà đi. “Trời toối roồi, anh nên về đi thoôi”- cô bảo bạn như vậy. Nhưng xin bạn chớ dại dột mà bỏ đi thiệt. Bởi “Nhứt gái Tiên Hà; nhì gà Tiên Lãnh”. Bạn đến Tiên Phước mà không chiêm ngưỡng vẻ đẹp và nghe ngữ thanh duyên dáng của cô gái Tiên Hà, không ăn món gà Tiên Lãnh xé phay với cháo là sai lầm nghiêm trọng!

Tuy nhiên, ngữ thanh (âm vị) chỉ là cái vỏ bên ngoài. Chính hệ thống phương ngữ mới quyết định nội hàm của ngôn ngữ Quảng Nam. Tôi sẽ bắt đầu bàn qua phương ngữ theo thứ tự alphabet, giải thích ngữ nghĩa và đặt từ ấy trong văn cảnh cụ thể để các vị bạn đọc tiện theo dõi. Có những từ về âm vị, người Quảng Nam nói đúng theo âm vị các vùng miền khác nhưng ngữ nghĩa thì rặt Quảng Nam. Chúng tôi cũng đưa các từ này vào trong phương ngữ Quảng Nam.

Ảng: Một đồ dùng để chứa nước, thường được đúc bằng xi măng. Ảng có miệng to, đáy nhỏ, dưới đáy có ba chân, được trổ một lỗ lù để thoát nước. Rồi, không để cho vợ hỏi lôi thôi nữa, ông Trùm ra ảng múc một miếng nước súc miệng. (Hai tuồng hát bội - Vũ Đức Sao Biển).

Ba xăng khao: Tào lao, ăn nói vớ vẩn. Thằng X là thằng ba xăng khao.

Bá vơ: Tào lao. Không đáng tin. Thằng đó nói toàn chuyện bá vơ.

Bàn hình: Máy chụp ảnh. Sở dĩ máy ảnh được phong lên thành “bàn” bởi ngày xưa, chiếc máy Leika do Đức sản xuất rất to lớn, cồng kềnh. Người chụp đứng sau nó, phủ tấm vải đen trùm đầu rồi mới ra hiệu sẽ chụp ảnh. Ngày nay, máy ảnh kỹ thuật số đã gọn nhẹ nhưng nó vẫn được gọi là… bàn hình. Gọi vậy cho oai! Anh đem cái bàn hình chụp cho em một tấm ảnh đi.

Bàn thọa: Hộc bàn. Cha để giấy tờ của con trong cái bàn thọa nớ.

Bành chát, bành sư, bành sư chát: Cái gì to lớn quá khổ. Củ khoai từ bành sư, nặng tới mười ký. Cái gì của ông Phó Bảy cũng quá khổ, cũng rùng rợn, cũng to bành sư chát. (Con cá vược - Vũ Đức Sao Biển).

Bảy đáp: Danh từ chung chỉ những người chuyên mổ heo. Không thương ai bằng thương anh bảy đáp, Ảnh làm heo rồi mình có tim, có cật mình ăn. (Hát ru con Quảng Nam).Bảy đáp táp… heo. (Thành ngữ Quảng Nam).

Bị: Cái túi áo (dính liền với áo). Chị lựa những trái sim chín nhất, to nhất bỏ vào bị cho em. (Bóng hoa sim - Vũ Đức Sao Biển).

Bủng: Trạng thái của người bị phù thũng. Tiết đông thiên, ông Út ổng bủng.

Chuổi: Cây chổi quét nhà. Mi cầm cái chuổi mi suốt cái nhà coi.

Chừ: Bây giờ. Chớ chừ ông đi mô? (Hai tuồng hát bội - Vũ Đức Sao Biển).

Cúp: Hớt tóc (phiên âm động từ couper trong tiếng Pháp). Anh Sáu là thợ cúp.

Dá: Nhứ để dọa nhưng chưa đánh (hư chiêu). Một cái dá bằng ba cái đánh. (Thành ngữ Quảng Nam).

Dị: Xấu hổ, mắc cỡ. Ăn mặc hở hang rứa mà không biết dị. Hôm qua, em đi vô toa-lét, lúc ra lại quên kéo phẹc-mơ-tuya. Trời ơi, dị chi mà hắn dị!

Diễn: Trạng thái của chiếc nón lá đẹp, nhìn thích mắt. Chiếc nón này diễn lắm.

Dớn: Tên một loài rau họ tảo, mọc ven bờ sông, bờ suối các huyện miền cao. Mùa này cành rau dớn/ Ngọt ngào tươi hơn hớn/ Chờ bàn tay em hái dâng cho người. (Xuân ca vô tận - Vũ Đức Sao Biển).

Dũm: Loại nắp nhỏ làm bằng đất sét nung để đậy hũ mắm (tĩn mắm) rồi khằn lại bằng xi măng hay mật rỉ đường. Mặt hắn thun lại như cái nắp dũm.

Đà: Đã. Trang hồng kim hải ra hoa/ Trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai. (Mùa phượng cũ - Bùi Giáng).

Đầu dầu: Đầu không đội nón. Trời nắng chang chang mà mi đi đầu dầu rứa Tèo!

Đủm: Khúc. Ngắn ngủn. Ngắn. Mía được cắt ra thành từng đủm. Người chi mà đầu đuôi có một đủm.

Đường đượng: Trạng thái của cái lưng to, mập mạp. Ăn uống cho lắm rồi cái lưng đường đượng.

Giú: Giấu. Che giấu. Đứa mô giú quyển sách của em X thì đưa ra. Cái chuyện động trời như rứa tại răng mi giú cho hắn?

Gù: gò. Tán, tán tỉnh. Nói dịu dàng để lung lạc người khác. Mi lại đây, tau bày cho cách gù gái. Hắn gù răng không biết mà mượn được bà Hai đến 6 triệu đồng.

Hầm hinh: Trạng thái của đồ vật chông chênh, không chắc chắn, người đứng lên có thể té ngã. Cái bàn đang hầm hinh, đừng có đứng lên đó.

Hỷ: Nhé, nhá. Vậy (thường đứng cuối câu). Anh về em hỷ. Đang ở mô rứa hỷ? Mạnh giỏi không hỷ?

Hoang: Nghịch ngợm. Nói bậy bạ chuyện tình dục. Thích tình dục. Mi nói mi hoang hả? Mi hoang răng bằng tau? (Bốn Chỉnh - Vũ Đức Sao Biển).

Cái thằng đó hắn nói hoang lắm. Mới 30 tuổi, ông đã có bốn đứa con. Đúng là hoang sớm.

Họ: Người ta. Đại danh từ nhân xưng ngôi thứ nhất. Đi đâu mà bỏ họ ở nhà một mình?

Hử: Hả. Thường đứng cuối câu hỏi, hàm ý giận dữ. Mi có nhớ mi hứa với tau cái gì không, hử?

Khí: Con người, đồ vật chẳng ra gì. Thằng khí nớ không làm được việc chi hết. Cái xe khí này mà chạy răng được?

Khía cạnh: Nói châm chọc. Thôi, ông đừng khía cạnh tôi nữa.

Khính: Chẳng ra gì (hàm ý khinh bỉ). Cái đồ làm ăn như khính!

Khò: Cái gì được kết dính lại bằng lửa. Đào vàng ba năm, anh X chỉ kiếm được mấy chỉ vàng khò.

Khu đĩ: Chỗ vách nhà hình tam giác đỡ lấy hai mái nhà. Nước lụt lên rất nhanh khiến nhiều bà con phải trổ khu đĩ thoát ra, leo lên ngồi trên mái nhà.

Khù: Khờ, không biết gì. Ba mươi tuổi mà hắn vẫn khù như con nít.

Kinh: Quá. Chu, cái ông ni dễ thương kinh! (Quảng Nam hay cãi - Vũ Đức Sao Biển).

Lả: Không đứng đắn, không nghiêm túc. Làm con gái thì đừng có lả.

Lộn thin lộn mồng: Đầu óc hồ đồ, lộn lạo các thứ không nhớ ra. Mi đi chơi, tau đánh cho mi lộn thin lộng mồng!

Lù đu: Không phát triển, không lớn, không cao. Vùng đất cát lại thiếu nước nên trồng cây chi cũng lù đu. Mười tám tuổi rồi mà hắn lù đu như rứa đó.

Mắc tịt: Mắc cỡ. Xấu hổ. Mặc xà lỏn mà đi ngoài đàng, không biết mắt tịt.

Mằn: Sờ sẫm. Mân mê. Tối ba mươi Tết, Tết ba mươi/ Chồng mằn ngực vợ, vợ cười tươi/ Ông bà phán hỏi: Làm chi rứa?/ - Vui! (Thơ yết hậu dân gian Quảng Nam).

Mít: Dốt. Chịu thua, không trả lời được. Anh hỏi tới chữ nghĩa thì tui mít. Cái thằng nớ đi học nhưng vẫn mít như không đi học.

Mỵ: Lạ lùng, không giống ai. Chớ mi làm cái chi mà mỵ rứa mi?

VŨ ĐỨC SAO BIỂN

Theo baoquangnam.com.vn