Dừng
chân trên bến khi chiều nắng chưa phai .. Từ xa thấp thoáng muôn tà áo
tung bay .. Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi đây .. Saigon đẹp
lắm Saigon ơi, Saigon ơi .. Ngựa xe như nước trên đường vẫn qua mau ..
Người xa thăm bến câu chào nói xôn xao.. Phố xá thênh thang đón chân tôi
đến chung vui .. Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi ..
Saigon
đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi!
Bài nhạc của Y Vân. Tôi đoán ông cảm tác
nó khi di cư vào tới thủ đô của miền Nam. Ông viết bài nhạc bằng cảm
nghĩ chân thật của một người lần đầu tiên đặt chân tới Saigon hoa lệ.
Ông ghi lại vào ký ức vài hình ảnh bắt mắt: một chiều nắng chưa phai với
muôn tà áo tung bay, dĩ nhiên là của phái nữ, phố xá thênh thang nhộn
nhịp ngựa xe như nước áo quần như nêm. Một nếp sống vui tươi chào đón
người di dân mới. Y Vân đã nói giùm cho hằng triệu người di dân khác đến
Saigon từ khắp nẻo đường đất nước. Thi sĩ Bàng Bá Lân vừa vào Saigon
cũng yêu thích tâm tình và nếp sống của người Saigon và cảnh đẹp miền
Nam ngay qua nhiều bài thơ của ông, trong đó có những câu như: Yêu xe
thổ mộ xôn xao, Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê; hoặc: Tôi yêu
nắng lóa châu thành, Trận mưa ngắn ngủi, gió lành hiu hiu. Thật vậy,
Saigon chợt nắng chợt mưa, phố phường lúc bấy giờ nhộn nhịp với tiếng vó
ngựa lóc cóc trên mặt đường nhựa của những chuyến xe thổ mộ lót chiếu
chạy các tuyến lộ trình Saigon ra khắp các vùng ngoại ô. Tôi cũng là dân
di cư trong khoảng thời điểm đó. Người di cư đến từ miền Bắc, miền
Trung, và họ cũng đến từ đồng bằng sông Cửu long như câu hát Anh từ đồng
quê đến; Tôi từ miền cát lên .
Saigon
đẹp lắm! Đúng hay sai? Đẹp hay xấu là tùy theo quan niệm riêng của mỗi
người, một câu nghe hoài. Hình ảnh đứa con bao giờ cũng đẹp trong lòng
một người mẹ, một câu khác nữa. Nhưng đối với đa số thi nhạc sĩ đã từng
gắn bó với Saigon, họ ưa thích xem Saigon như người tình hơn, vì chỉ có
yêu người tình mới đê mê,thắm thiết, mãnh liệt, nồng nàn, da diết, lâu
dài, suốt cả cuộc đời. Họ thích gọi Saigon bằng một tiếng “em” rung cảm.
Tôi
chết nhát, không dám gọi Saigon bằng em. Tôi sợ các vong hồn tiền nhân
Saigon vặn cổ. Họ là những nhà tiên phong khai phá từ xứ Quảng miền
Trung gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Thừa Thiên), Quảng
Nam, Quảng Ngãi vào đây lập nghiệp dưới thời các chúa Nguyễn từ đầu thế
kỷ thứ mười tám; hoặc là những thuyền nhân người Minh hương (vì thế mới
bị gọi là Ba Tàu) đến từ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa
(cũng lại Quảng nữa!). Họ là những Ông Lãnh, Bà Chiểu, Thị Nghè, Đỗ Hữu
Phương, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trịnh Hoài Đức, Hui Bòn
Hỏa,Nguyễn An Ninh, Lê Quang Định, Võ Tánh, Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy,
Cha Cả Bá-Đa-Lộc, v.v.
Vong
hồn tiền nhân Saigon linh thiêng nhứt là Lê văn Duyệt. Nếu ông không
linh thiêng thì tại sao người dân Saigon xây lăng mộ ông lớn nhất, tôn
thờ ông như một vị thần và hằng năm cúng lễ ông đông nhất để khấn nguyện
xin ông phù hộ. Nếu bạn dám vỗ ngực tự hào xưng là dân Saigon thứ thiệt
thì ít nhứt một lần bạn phải đến viếng thăm lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt
vào một ngày đầu năm để hái lộc, để bị khói nhang xông cay chảy nước mắt
trong lúc chờ người yêu làm một quẻ bói xăm. “Lăng Ông”, “Vườn Ông
Thượng”, không cần phải kể tên, người ta cũng biết “ông” là ai. Cái oai,
cái vía của ông vẫn còn tồn tại mãi mãi trong lòng người dân Saigon và
đã trở thành bất tử, mặc dầu ông mất từ lâu lắm, năm 1832.
Tuy
Saigon ngày nay bị đổi tên, nhưng đối với người dân Saigon, ông Lê Văn
Duyệt. Là Tổng trấn thành Gia Định dưới triều vua Minh Mạng, dưới trướng
còn có đứa con nuôi Lê văn Khôi gốc người Nùng dũng mãnh, còn có ông
Hoành, ông Trấm hầu cận, Lê văn Duyệt tỏ ra là một nhà hành chánh giỏi
tài tổ chức và quản trị, có đủ uy danh và đức độ, ai ai cũng nể vì, kể
cả mấy ông vua Cao-Miên thuở đó. Với cây gươm Thượng-phương-kiếm của vua
trao cho quyền tiền trảm hậu tấu, ông thẳng tay chém đầu kẻ tội, dù
người đó là Huỳnh Công Lý, cha vợ của vua, ông cũng không tha. Ông có
công lớn trong việc mở mang bờ cõi, xây dựng và phát triển Saigon. Trong
khi triều đình Huế khắc khe áp dụng chính sách bài ngoại và bế môn tỏa
cảng, ông đón nhận di dân nước ngoài, khuyến khích thương mãi và giao
dịch, một mặt duy trì an ninh trật tự xã hội. Ông đáng được gọi là Người
Sài Gòn Số Một. Saigon thu hút dân tứ xứ đến sinh cơ lập nghiệp kể từ
đó và tiếp tục phát triển.
Nhưng
danh hiệu Hòn Ngọc Viễn Đông – Le Perle de l’Extrême Orient, The Pearl
of the Far East – mà Saigon có được vào đầu bán thế kỷ hai mươi phải
nhìn nhận là do công của người Pháp. Sau khi toàn cõi miền Nam đã trở
thành thuộc địa của Pháp vào năm 1859, người Pháp muốn đặt nền móng hành
chánh lâu dài nên ra sức canh tân thành phố Saigon, thiết kế đô thị
theo kiểu mẫu kiến trúc Âu châu trong suốt 80 năm cho đến trước khi Đệ
Nhị Thế Chiến. Saigon thu hút đầu tư của giới kinh doanh kỹ nghệ Pháp
cùng với sự đóng góp của kiều dân gốc Hoa, Ấn, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi,
Ái Nhĩ Lan, Mã Lai, và nhiều nước khác nữa. Sau khi thực dân Pháp hoàn
toàn rút chân ra khỏi Việt Nam vào năm 1954, nhiều công ty tư nhân của
Pháp vẫn còn tiếp tục làm ăn ở Saigon: Denis Frères, Mitchelin, B.G.I.,
Mélia, Bastos, v.v.
Tuy
cách xa bờ biển gần một trăm cây số nhưng Saigon được xem như là một
hải cảng có nhiều ưu điểm chiến lược và lý tưởng vì mọi tàu bè viễn
dương thời đó đều vào được. Saigon cũng mang đầy đủ đặc tính tiêu biểu
của những thành phố cảng khác trên thế giới như Marseille, New Orleans,
Montreal, Thượng Hải; là nơi dân giang hồ tứ chiến dừng chân. Họ thuộc
đủ mọi thành phần, từ những bậc vương tôn công tử lắm bạc tiền cho đến
những tay anh chị khét tiếng thuộc xã hội đen, những con buôn thủ đoạn
nắm bắt thời cơ làm giàu, ăn chơi hưởng thụ, thích ứng và hài lòng với
đời sống mới, xin chọn Saigon làm quê hương và gởi nắm xương tàn nơi đó.
Hai
mươi tám năm qua rồi, tôi chưa nhìn thấy lại Saigon; hai mươi tám năm
cách trở giữa tôi với thành phố mà nơi đó, tôi đã trãi qua lứa tuổi hoa
niên thơ mộng và đáng nhớ nhất của cuộc đời mình. Hai mươi tám năm, một
nửa phần đời đã qua, dài hơn phần đời còn lại. Hai mươi tám năm sống
trên xứ lạ, tâm tư thật nhiều nhớ nhung, vọng tưởng, thật nhiều hồi ức
và hoài niệm về thành phố thân yêu đó. Hai mươi tám năm dõi mắt hướng
về, lắng tai ngóng đợi, cố thu thập mọi diễn tiến xảy ra nơi vùng đất
cũ, nơi đã in dấu biết bao kỷ niệm vui buồn.
Tôi
bước chân đến thành đô Saigon lần đầu tiên vào mùa bãi trường và nghỉ
hè năm 1950, khi quái kiệt Trần Văn Trạch hay hát Con chim hòa bình đang
đau nặng, Ngày và đêm càng thêm lo lắng. Thằng bé nhà quê sáu tuổi như
bị thôi miên trước Saigon hoa lệ, rực rỡ ánh đèn, dập dìu xe cộ. như đi
lạc vào trong một thế giới mới lạ của chuyện thần tiên. Phố xá thênh
thang đón chân tôi đến chung vui. Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi!
Suốt mấy tháng cuối hè năm ấy, tôi mãi mê tiếp nhận những kinh nghiệm
mới mẻ, đẹp đẽ và hấp dẫn đầy những hình ảnh và âm thanh quyến rũ, quyến
rũ đến nỗi tôi quên cả nhớ nhà, nhớ bà ngoại, nhớ mẹ và đứa em nhỏ.
Quyến rũ đến nỗi ba tháng trôi qua một cái vèo, và đã đến lúc tôi phải
từ giã Saigon lần đầu tiên trong bịn rịn luyến tiếc. Không luyến tiếc
làm sao được khi tôi đã được chiêu đãi như một hoàng tử bé trong suốt
quãng thời gian đó. Tôi chỉ có vui chơi, dạo xem các thắng cảnh của
thành phố, ăn ngon mặc đẹp, và tham dự vào những thú tiêu khiển giải trí
thời thượng của cả người lớn nữa.
Lúc
bấy giờ tôi chưa hiểu lý do tại sao tôi lại được cha tôi cưng chiều như
vậy và tôi cũng chẳng cần đi tìm một sự giải thích. Mãi về sau, khi đã
trưởng thành thêm, tôi mới chứng ngộ được đầu đuôi sự việc. Tôi xin kể
sau đây.
Vì
lý do an ninh và kinh tế, cha tôi một mình rời quê Mỹ Tho lên Saigon
tìm công ăn việc làm, trong khi mẹ tôi và anh em tôi ở lại quê ngoại.
Ông tìm được việc ngay, thư ký kế toán cho Nhà Đèn Chợ Quán, tức nhà máy
điện của đô thành. Thỉnh thoảng ông đáp chuyến xe lửa Saigon-Mỹ Tho
(dài bảy mươi hai cây số, mất hai tiếng rưỡi đồng hồ) về quê thăm gia
đình, mang theo nhiều quà cáp cho tất cả mọi người trong nhà, thường là
các loại kẹo bánh Pháp như chocolat Nestlé ổ chim, bánh hộp Bisquit, Lu,
bơ Bretel, fromage La Vache Qui Rit con bò cười. Hè năm đó, ông không
về mà chỉ nhắn tin gọi tôi lên thăm ông. Ông thu xếp với một người quen
làm tài xế xe hàng chở dừa cho tôi quá giang lên Saigon, xong ông đến
vựa bán dừa của người quen ở Chợ Cầu Muối đường Kitchener (sau nầy là
đường Nguyễn Thái Học) đón tôi về nhà trọ ở khu Nancy (Chợ Quán). Đó là
lần đầu tiên tôi đi xe điện chạy tuyến đường Saigon-Chợ Lớn dài sáu cây
số và cũng là tuyến đường xe điện độc nhất của thành phố Saigon. Sau khi
đã định cư ở xứ cờ lá phong, trong mấy năm cuối của thập niên 1970, tôi
đi làm mỗi ngày trên đường Queen St., thành phố Toronto, cũng bằng xe
điện streetcar, y như hai mươi tám năm trước đó ở Saigon.
Về
đến nhà trọ, cha tôi giới thiệu tôi với một phụ nữ trẻ khoảng độ hai
mươi tuổi, bảo tôi gọi là Dì Ngân. Dì Ngân là người thành phố, tuy không
đẹp lắm nhưng tánh tình dan dĩ, tự nhiên, tự tin, hoạt bát, vui vẻ. Dì
gọi tôi bằng con nghe ngọt xớt, xoa đầu tôi, cặp cổ tôi, bẹo má tôi, xem
tôi như một món đồ chơi. Dì chăm sóc tôi chu đáo, mua sắm quần áo, giầy
dép mới cho tôi. Dì nấu ăn khéo, làm cơm ngon, mua thức ăn đắt tiền như
tôm càng rim, thịt bò xào dưa cải, canh nấm đông cô. Dì Ngân có một
người chị làm đào cải lương đoàn hát Hoa Sen của Bảy Cao, cứ vài ba đêm
lại dắt tôi di coi cải lương ở rạp hát Nguyễn văn Hảo trên đại lộ
Galliéni (Trần Hưng Đạo). Vãng hát, cha tôi và dì Ngân còn dắt tôi đi ăn
“xíu dề”, cữ ăn khuya theo thói quen của người Tàu Chợ Lớn, ở “La-Cai”
(Lacaze, tức đường Nguyễn Tri Phương), thường là món cháo hoa ăn kèm hột
vịt muối hoặc hột vịt bắc thảo ở một quán người Tàu, rồi mới về nhà.
Những
ngày cận Tết Trung Thu, tôi được dắt vô Chợ Lớn dạo phố, mua bánh, mua
đèn. Cuối tuần, cha và dì dắt tôi đi dạo vườn Bờ-Rô (do chữ Pháp
“pelouse”, sân cỏ, theo như sự giải thích của nhà văn Sơn Nam trong
quyển bút ký Người Sài Gòn), tức Vườn Tao Đàn, coi người ta chơi boules
(học giả Vương Hồng Sển trong tác phẩm Saigon Năm Xưa gọi môn chơi thể
thao nầy là “quần lăn”), một trò chơi thảy những trái banh bằng sắt cỡ
vừa lòng bàn tay. Lúc khác nữa, tôi được dắt đi bát phố Catinat,
Charner, Bonard (các đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi sau nầy), xem phòng
trưng bày xe hơi ô tô có các hiệu Citroen, Peugeot, Traction, xem
xi-nê, ăn kem, mua bánh kẹo Pháp ( Thật không ngờ năm mươi năm sau, ngày
nay tôi vẫn còn mua fromage hiệu La Vache Qui Rit ăn lai rai). Còn nữa,
tôi được dẫn vô khu giải trí Đại Thế Giới ở Chợ Lớn, Kim Chung ở Saigon
coi thiên hạ cờ bạc, trường đua Phú Thọ coi đua ngựa và coi thiên hạ
đánh cá ngựa, người nào thua cháy túi thì coi như bị ngựa đá. Một tình
yêu mến như lời hát câu ca. Để lòng thương nhớ bao ngày vắng nơi xa.
Sống mãi trong tôi, bóng hôm nay sẽ không phai. Saigon đẹp lắm, Saigon
ơi, Saigon ơi.
Saigon một thời được tặng cho danh xưng Hòn Ngọc Viễn Đông kể cũng
không ngoa. Tuy Saigon không đồ sộ bằng những thành phố lớn ở Bắc Mỹ,
không cổ kính bằng những thành phố ở Ấu Châu, nhưng Saigon duyên dáng mỹ
miều với những con đường rợp bóng cây, những công trường ngã năm, ngã
sáu, ngã bảy đầm ấm nhộn nhịp, những dinh thự, phố xá và nhà ốc có nét
kiến trúc yêu kiều. Saigon có một nền kinh tế phồn thịnh, nằm sát vựa
lúa trù phú miền đồng bằng sông Cửu Long. Bến cảng Saigon có hải xưởng
bảo trì và chỉnh trang tàu bè, là cửa ngõ mậu dịch với thế giới, là trạm
tiếp vận cho hai nước Cao Miên và Lào. Tuyến đường hỏa xa dự định nối
liền Saigon-Nam Vang chỉ mới thực hiện đoạn đầu đến Mỹ Tho đã phải bị
đình chỉ khi sự vận chuyển bằng xe hàng dễ khả thi hơn và đường hàng
không lần lượt phát triển mạnh mẽ. Tâm tình người Saigon xuề xòa, không
quá bon chen đua đòi, có làm có ăn, cầu vừa đủ xài và luôn luôn mở rộng
tấm lòng đón nhận dân mới đến.
Sau
khi đã trở lại làng quê Long Bình Điền, quận Chợ Gạo để bắt đầu năm học
mới, tôi tỉnh bơ nói ra cảm nghĩ thật của mình về cha tôi, về cô tình
nhân của ông là dì Ngân, về những ngày vui của tôi ở Saigon. Tôi nào
biết điều đó đã làm cho mẹ tôi, ngoại tôi buồn lòng rất nhiều. Mỹ Tho
cách Saigon chỉ có 72 cây số, sự giao-thông thuận tiện, có xe lửa, xe
đò, xe lô chạy suốt ngày, tuy gần mà xa. Hèn chi tôi hay nghe cha tôi
ngâm nga mấy câu thơ: Cúc mọc bờ ao kêu bằng cúc thủy, Chợ Sài Gòn xa,
chợ Mỹ cũng xa. Viết thơ thăm hết nội nhà, Trước thăm phụ mẫu, sau là
thăm em. Hoặc: Mười giờ tàu lại Bến Thành, Xúp-lê vội thổi, bộ hành xôn
xao. Tôi cũng hay nghe mấy câu hát ru con Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu. Anh về anh học chữ nhu, Chín trăng em đợi,
mười thu em chờ. Học chữ nhu, phải chăng ý nói hiền bớt lại, đừng nóng
nảy cộc cằn, đừng mắng chửi em, đừng bạt tai em; hay chữ nhu do “chữ
nho” nói trại ra, điều nầy hoàn toàn tôi không được rõ.
Tôi
lên Saigon lần thứ nhì để định cư luôn vào cuối năm 1953 cùng với mẹ và
em tôi. Tôi định khoe với đứa em trai chiếc xe điện chạy trên đường
rầy, ở trên mui có cái đuôi dài móc dính lên giây điện, mỗi lần xe chạy,
cái đuôi xẹt ra ánh sáng nghe lạch tạch. Nhưng xe điện đã bị dẹp mất
tiêu! Cha tôi mua một căn nhà trong hẽm 192 đường Đề Thám cho gia đình
ở, đồng thời vẫn duy trì “phòng nhì” với dì Ngân trong khu Nancy. Lúc ấy
cha tôi bắt đầu làm việc cho ngân hàng Banque Franco-Indochinoise trên
đường La Somme, đại-lộ Hàm Nghi; ông có sắm một chiếc xe Mobilette để đi
làm mỗi ngày ở Chợ Cũ. Sau đó khá giả hơn nhờ có cao trào chuyển ngân
qua Pháp, cha tôi sắm một chiếc xe hơi hiệu Fiat của Ý để đi chơi xa, về
quê Mỹ Tho hái mận hồng đào, đi tắm suối Trị An ăn canh chua lá vang,
tắm biển Gò Công ăn hột vịt lộn, biển Vũng Tàu, Long Hải, đi Đà Lạt đồi
thông, Nha Trang cát trắng, Ban-Mê-Thuột đất đỏ.
Xóm
192 Đề Thám là một xóm lao động, đa số dân cư trong xóm là phu phen,
thợ thuyền, bạn hàng buôn bán lẻ. Cha tôi nằm trong thiểu số có ít vốn
liếng chữ nghĩa, đi làm mặc áo sơ-mi trắng, ôm cặp-táp, nên được lối xóm
kêu bằng thầy Tư, vì mẹ tôi thứ tư. Nhà trong xóm là nhà dãy san sát
nhau, trệt, lầu lẫn lộn, có một vài gia đình người Tàu sống hòa thuận
với chòm xóm người Việt.
Xóm
lao động dĩ nhiên là đông đúc và ồn ào, suốt ngày nghe đủ loại những
tiếng rao hàng. Một ông Tàu không rành rẽ tiếng Việt, đầu đội một cái
nia lớn, vai đeo khung chân ghế xếp cất tiếng rao:”Bánh bò bánh tiêu
bánh bò .Dầu-chá-quải bánh bò .Bánh bò lá dứa nước dừa .Mại dô mại dô
.”. Một ông Tàu khác gánh cần-xé đi mua đồ lạc-xon rao:”Ve chai .Ai có
xon nhôm nồi đồng hư bể bán hôn .” . Một ông Tàu khác mặc áo có nhiều
túi rộng phình, đi tay không rao:”Vàng vụn bạc vụn bán hôn. Răng vàng
hư, đồng hồ bể bán hôn”. Có ông gánh nồi nước bốc khói, tiết kiệm lời
rao, hoặc ngượng nói tiếng Việt không rành, chỉ lắc một cái trống nhỏ
nghe lung tung, người ta cũng biết ngay đó là ông thợ nhuộm. Ông mài dao
thì quơ một xâu dài có nhiều miếng sắt móc dính với nhau; khi quơ phát
ra tiếng kêu reng rẻng. Hai cha con ông bán mì thì chỉ cần gõ thanh gỗ
“cắc cụp”. Vui nhất là ông Tàu bán thuốc trừ gián, chí, rệp:”Thuốc chí
trừ chí, thuốc rệp trừ rệp”. Một lần người ta hỏi mua một gói thuốc trừ
rệp, ông Tàu lục túi dết kiếm một hồi rồi lấy đưa ra. Người mua thắc
mắc, “Sao tui mua thuốc rệp mà ông đưa thuốc chí?”, ông Tàu đáp tỉnh
bơ:”Thuốc chí chừ dệp cũng lược mà hầy lớ!”
Người
Việt bán hàng rong ít khi di chuyển mà chỉ thích quây quần lại một chỗ
nhất định ở đầu hẻm, trước trường học, trước rạp hát, là những nơi có
đông người qua lại. Số người đi dạo vào tận xóm trong qua từng nhà có
một chị bán chè với tiếng rao trong trẻo lảnh lót Ai ăn chè bột khoai
nước dừa đường cát hôn .nghe êm tai vô cùng. Ngoài ra còn có một chị bán
sương sa hột lựu, một bà xỏ lỗ tai, một bà cắt lể, một ông vác hơi, một
ông đấm bóp và mấy chú nhỏ bán cà-rem cây mang trên vai cái bình thủy
nặng nề. Một cây cà-rem béo ngon lúc bấy giờ giá chỉ có năm cắc bạc và
một tô hủ tiếu hai đồng. Những người bán dạo nầy dần dần giải nghệ hoặc
cải tiến theo thời gian, theo sự biến đổi của luật tuần hoàn và theo sự
đào thải của luật cung cầu.
Hằng
ngày, tôi đi học ở trường tư thục Tiên Long, đường Cô Bắc cho đến hết
lớp Đệ Tứ; sau đó học tiếp các lớp Đệ Tam, Nhị, Nhất trường Hưng Đạo của
thầy Nguyễn văn Phú (Cống Quỳnh), trường Trường Sơn của thầy Nguyễn Sỹ
Tế (Lê văn Duyệt), trường dạy Anh-ngữ của thầy Trần Việt Anh (Đinh Tiên
Hoàng, Đakao). Tôi đi học ở Saigon trong mười một năm liền, rớt tú tài
một mấy keo, tú tài hai thêm mấy keo nữa vì ham mê văn nghệ hơn là ham
học các môn toán, lý hóa, vạn vật. Sư tổ chuyên trị thi rớt là Trần Tế
Xương (1869-1907) thi hương tám lần mà vẫn rớt có phán rằng Mai không
tên tớ, tớ đi ngay. Giỗ tết từ đây nhớ lấy ngày. Tội nghiệp ông tú Vị
Xuyên sinh bất phùng thời, có bằng tú tài mà không có Trường Võ Bị Thủ
Đức để mà kiếm cái lon chuẩn úy le lói chơi, đành sống trong cảnh nghèo,
làm thơ chua và mất sớm. Thi rớt, làm đúng theo lời sư phụ, tôi đi ngay
thật. Tôi đi ngay vào rạp hát xuất permanent ngồi suốt buổi sau khi
không thấy tên mình trong danh sách thí sinh trúng tuyển…Vui chi khi
chàng trai hỏng thi, Khóc như cô thiếu nữ lúc bước đi về nhà chồng .Tôi
đâu có khóc, mà cũng không thể khóc như cô dâu về nhà chồng. Cô dâu buồn
trong chốc lát rồi sẽ được vui nhiều, chớ người trượt vỏ chuối ở trường
thi thì …buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm, thấy buồn sao là
buồn!
Những
ngày nghỉ (nhiều lắm!), tôi lội nát quận nhì, quận nhứt, lan lên tới
quận ba. Những con đường Hồ văn Ngà, Nguyễn văn Sâm, Lefèvre, Yersin,
Calmette của quận nhì, tôi lội bộ qua đó đều đều để bắn me bằng giàn ná
thun, để ăn vặt bò viên, bánh ướt tôm khô chả lụa, gỏi đu đủ bò kho, bò
bía, phá lấu, mực luộc. Tôi đi coi “xiné” ở các rạp Khải Hoàn, Thanh
Bình, Rex, Kinh Đô, Vĩnh Lợi, Lê Lợi, Majestic, Long Phụng, Casino
Saigon, Moderne Tân Định. Gần nhà nhất là rạp Đại Quang ngay đầu hẽm
192, Đề Thám. nhưng tôi chê vì rạp nầy chuyên hát phim Tàu, xem mặt cô
đào Lý Lệ Hoa mãi củng chán. Xa hơn chút nữa có rạp hát Đại Nam trên đại
lộ Trần Hưng Đạo. Rạp nầy xịn lắm, với màn ảnh đại-vĩ-tuyến, ghế nệm và
có máy lạnh đàng hoàng. Đường Cô Giang gần Chợ Cầu Muối có rạp Diên
Hồng, bên Bến Vân Đồn thuộc quận tư có rạp Nam Tiến tệ hệ quá, nước đái
khai rùm, chỉ đi coi một lần là dội ngược, không trở lại lần thứ hai.
Thuở
đó tôi mê coi phim chiếu bóng lắm. Phim Pháp chẳng có bao nhiêu, tôi
chỉ nhớ phim Khỉ Đột Xin Chào Le Gorille Salue Bien do tài tử Lino
Ventura đóng, một số phim khác có hề “mặt ngựa” Fernandel , có kép đẹp
Alain Delon, có các đào đẹp Catherine Deneuvre, Claudia Cardinale,
Brigitte Bardot, v.v. Đa số là phim Mỹ với các tựa phim bằng chữ Pháp
mới tức cười, chẳng hạn như Le Soleil Se Lèves Aussi Mặt Trời Vẫn Mọc,
Vallée de la Mort Thung Lũng Tử Thần, L’Auberge au Sixième Bonheur Quán
Trọ Lục Phúc, L’Homme au Colt d’Or Dũng Sĩ Súng Bá Vàng, Le Pont de la
Rivière Kwai Cầu Sông Kwai, Bonjour la Tristesse Buồn Ơi Ta Chào Mi, Le
Jour le Plus Long Ngày Dài Nhất, v.v.
Tôi
cũng mê coi cải lương nữa, thành thử ra học dốt là phải!. Rạp Nguyễn
văn Hảo ở ngay góc đường Trần Hưng Đạo với Đề Thám, rất gần nhà, tôi đi
bộ không đầy mười phút, là rạp tôi coi thường trực. Rạp nầy thiết kế bên
trong theo kiểu hí viện Âu Châu, cũng có hai từng balcon hình vòng
cung, hai đầu vòng cung có các khu ngồi ngăn riêng cho khách xộp. Hai
tuồng cải lương “Đoàn Chim Sắt” và “Mộng Hòa Bình” của đoàn hát Hoa Sen
diễn cả tháng, tôi xem không biết là mấy lần. Tôi mê sự mới lạ của kỹ
thuật điện ảnh, ánh sáng, âm thanh, cơ giới, mà ông bầu Bảy Cao với đầu
óc sáng tạo, tiên phong đem áp dụng vào sân khấu cải lương. Tôi khoái
coi ông thợ vẽ affiche bằng bột màu ngồi khòm lưng làm việc ngay một góc
trước rạp. Về nhà, tôi cũng bắt chước kẻ ô vuông một tấm hình trong tạp
chí rồi cọp-py lại trên một tờ giấy trắng lớn hơn.
Sau
rạp Nguyễn văn Hảo là Ngã Tư Quốc Tế góc đường Đề Thám và Bùi Viện, một
khu vực thiết thân của giới nghệ sĩ, là nơi gặp gỡ của các ông bầu,
soạn giả, họa sĩ vẽ phông, ký giả săn tin, và các tay làm áp-phe văn
nghệ.. Gọi đó là Ngã Tư Quốc Tế cũng xứng đáng, vì chỉ trong vòng tròn
với đường bán kính vài cây số, có ba rạp hát cải lương và bốn rạp chiếu
bóng thường tổ chức đại nhạc hội thi ca vũ nhạc kịch vào dịp cuối tuần
hoặc vào những ngày lễ lớn. Đại nhạc hội nào càng có nhiều hề, tôi càng
khoái đi xem. La Thoại Tân bô trai giả bộ anh khờ ngây thơ, Túy Hoa xí
xọn, Thanh Việt chuyên đóng vai đầy tớ, Thanh Hoài hiền ngoan vô tư, Khả
Năng chàng ngốc vai u thịt bắp , Tùng Lâm mỏ chuột ma lanh, Xuân Phát
lên mặt dạy đời, Hoàng Mai nổi nóng gây sự, Phi Thoàn õn ẹo như lại cái,
Văn Chung cười băm lăm con dê hết xẩy. Nằm lọt trong cái vòng tròn đó
là đường Bùi Viện, nổi tiếng là nơi tập trung những quán nhậu thuần túy
đặc sản quê hương, và một quán cơm bình dân tự-phục-vụ self-service theo
kiểu một cafeteria nằm ngay góc đường của ngã tư. Cuối Đề Thám về hướng
Bắc là ngã ba đường Phạm Ngũ Lão, bản doanh của nhiều tòa soạn nhật
báo, tuần báo, tạp chí. Phía bên kia đường rầy xe lửa là đường Lê Lai
với rạp Thành Chung của đoàn Kim Chung, với nhiều cửa hàng cung cấp
nhiều mặt dịch vụ khác nhau. Bến xe đò đi lục tỉnh Nguyễn Cư Trinh, Ga
Xe Lửa và Chợ Bến Thành cũng nằm trong vòng tròn đó.
Suýt
soát hai mươi năm sống ở Saigon, tôi hay la cà ở cái ngã tư đầy cám dỗ
nầy. Ban đầu, tôi mê mẩn những giọng hát lời ca ngọt ngào như mía hấp
hoặc tài diễn xuất lôi cuốn như nam châm của Út Bạch Lan, Thành Được,
Thành Công, Kim Cương, Ngọc Giàu, Văn Chung, Ngọc Nuôi, Việt Hùng, Bích
Thuận, Bích Sơn, Bạch Tuyết, Hùng Cường . Dần dần, tôi mơ mộng một thần
tượng Thanh Nga tài sắc vẹn toàn. Tôi đã từng lén ra hậu trường để coi
Thanh Nga sắm tuồng, thoa son dồi phấn. Đám tang của nghệ sĩ Năm Nghĩa,
thân phụ của Thanh Nga, diễn ra trên đại lộ Trần Hưng Đạo, tổ chức lớn
lắm, người đi rất đông, tôi cũng có xem. Dĩ nhiên sau nầy khi đã vào
lính và đã lập gia đình, tôi chỉ còn mơ mộng đến Ngã Tư Quốc Tế qua hình
ảnh mấy món nhậu gà xối mỡ, cua rang muối, bò lúc lắc, lươn um xả, đùi
ếch chiên bơ, tôm gỏi ngó sen, đầu cá hấp, và mấy chai bia 33, bia con
cọp mà thôi.
Đại
lộ Trần Hưng Đạo là một trong những con đường huyết mạch, là trục giao
thông chính nối liền Saigon với Chợ Lớn. Lề đường hai bên rất rộng, được
che mát bởi hai hàng cây cao vút, thân to lớn, thẳng đứng, nhánh xòe
mang nhiều trái có hình thù giống dái ngựa(?) nên cây bị đặt luôn cho
cái tên khó nghe đó. Nghe vậy mà không phải vậy, vì theo tôi nhận thấy,
thành phần nào của loại cây nầy cũng dễ thương hết. Tôi đã từng say sưa
ngửa mặt dang tay hứng đón những cơn mưa hoa vàng đổ xuống trong khi gió
lay lá reo xào xạc. Đến mùa trái khô, những trái hình quả lê hay quả bơ
màu nâu láng năm cánh nở bung ra rớt xuống lề đường, tức thì cả đống
hột có cánh đơn đồng loạt bay, vừa bay vừa quay mòng trông giống như một
màn đổ bộ của đoàn quân nhảy dù lơ lửng trên không. Nhà phố hai bên rất
khang trang, sầm uất, có nhiều cơ sở thương mãi, trường học công lập,
hí viện, nhà thương, cơ quan chính phủ, giáo đường. Nhà thờ Tin Lành
Saigon (nằm ngay góc Trần Hưng Đạo/Đề Thám) cũng là nơi tôi hay la cà vì
ham vui, nhất là vào dịp lễ Giáng Sinh, được nghe ban hợp ca hát liên
tiếp nhiều bài êm ả lỗ tai vô cùng (Đêm đông lạnh lẽo, Chúa sinh ra đời,
Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá, trong máng lừa.). Tôi từng vào bên
trong thánh đường ngồi chăm chú nghe rao giảng đạo của Đức Chúa Trời,
được phát cho mấy tập bài giảng có nhiều hình vẽ rất đẹp.
Lễ
Quốc Khánh 26/10 hằng năm dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa nhiều lần được tổ
chức trên con đường nầy với khán đài danh dự được dựng lên trước trường
nam tiểu họcTôn Thọ Tường. Sân trường Tôn Thọ Tường rộng lắm, được dùng
làm nơi tổ chức hội chợ triển lãm hàng nội hóa mấy lần, có sân khấu và
chương trình ca nhạc sống giúp vui. Tôi đã nghe ca sĩ Việt Ần hát bài
Hận Đồ Bàn ở đấy. Sân trường nữ tiểu học Phan văn Trị có trồng mấy cây
chuối, cả bầy dế cơm làm ổ dưới gốc, tôi bắt mấy chục con cho ông hàng
xóm dồn đậu phọng chiên nhậu chơi. Một lần khác, cà cuống bay về ngã tư
nầy rất nhiều lúc ban đêm quần theo ánh đèn đường sáng quắc và đâm đầu
rớt xuống dưới chân cột điện, tôi lượm đem về cho mẹ tôi nướng để giầm
vô nước mắm pha lấy mùi thơm. Trường Phan Văn Trị vào ban đêm biến thành
Trường Bách Khoa Bình Dân Học Vụ dành cho học sinh người lớn trau giồi
kiến thức văn hóa cho nên nhộn nhịp với đèn đuốc sáng trưng vui lắm.
Cạnh
rạp hát Đại Nam có lò bánh mì Vạn Kim của người Tàu hầu như mở cửa suốt
ngày đêm. Bánh mì ổ kiểu Pháp và kiểu Ý xuất phát từ lò nầy ra nổi
tiếng ngon nhứt Saigon. Tôi hay ra lò bánh mì nầy mua vài ổ nóng hổi mới
ra lò thơm phức đem về ăn với vịt quay, xá xíu mà cha tôi đã mua ở Chợ
Cũ. Vừa bước vào cửa và đứng ở quầy đặt hàng và trả tiền, tôi có thể
nhìn thấy sau vách ngăn thấp có gắn kính trong suốt bên trên, những
người thợ toàn là thanh niên trẻ đang nhanh nhẹn làm việc. Họ làm việc
hầu như suốt ngày đêm vì bất cứ giờ nào tôi lội bộ ngang qua đó cũng đều
thấy. Họ mặc áo thun trắng, bụng quấn tạp-dề trắng, đầu đội nón nồi
trắng, cả nước da của họ nữa cũng trắng luôn vì dính đầy bột mì và vì
luôn luôn làm việc không có ánh nắng mặt trời. Họ làm việc trong im
lặng, hai tay cử động lẹ làng thoăn thoắt nhồi nhồi nắn nắn mấy cục bột
rồi dùng một cây que thật dài bằng gỗ giống y như mái chèo để đưa bột
vào lò gạch, bên dưới lửa than cháy đỏ rực.
Xin
mời bạn đọc một văn sau đây nói về con đường Trần Hưng Đạo trích trong
quyển tùy bút Thành Phố Trong Hồi Tưởng của Trần Hồng Châu, bút hiệu của
giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, người từng giữ chức Khoa trưởng Đại học Văn
khoa Saigon trước 1975:
Tôi
vốn có duyên với đường Trần Hưng Đạo. Đổi nhà mấy phen vẫn quanh quẩn
trong lưu vực của dòng Trường giang thành phố đó. Tôi trầm ngâm nhìn
ngoài bản đồ Saigon và trong tâm tư để xác định những điểm “cao”, những
địa linh rải rác khắp dọc “sông”. Đường Đồng Khánh hay Trần Hưng Đạo nối
dài, vùng các khách sạn Đồng Khánh và Thiên Hồng-Arc en Ciel-nhất định
phải là hẽm Vu-sơn, Vu-giáp trong Tình sử và Đường thi. Lòng đường bỗng
dưng co hẹp lại, nhà cao tầng san sát, rập rình lớp lớp ngựa xe, từng
hồi chao đảo, từng hồi nhấp nhô như sóng nước Trường giang bị kẹp chặt
giữa hai sườn núi đá chênh vênh. Luôn luôn âm u sương khói phủ, khói phù
dung và phạn điếm giống như những nét mịt mùng, đậm nhạt, rất thủy mặc
của vùng cao-nguyên Tứ-xuyên, đầy lam sơn chướng khí và màu sắc u huyền.
Luôn luôn chìm trong mênh mông màn khói thuốc lá thơm và hoang tưởng
mùi phấn hương của nhạc chiều luân vũ, gần bên những Tân-Đào-Viên, những
Bá-Lạc-Đài, những Đại-Thế-Giới của một thuở nào. Đây là nơi đã từng đốt
cháy hơn một cuộc đời, đất hứa của những cảm giác lạ, những giấc mơ
tình ái có nhiều mây và mưa trong vương quốc của nữ thần huyền thoại.
Đây là nơi, đúng như trong những diễm tình tiểu thuyết cổ điển, ta có
thể lên ngôi hoàng đế một đêm, để sớm mai lại lủi thủi đi bên lề đường,
cô đơn, như một Mại-du-lang đa tình, hay một thư-sinh chưa trọn giấc kê
vàng sau buổi lạc đề thi ngoài cửa khuyết.
Đi
xa hơn nữa tới vùng Nancy, mang tên con gái êm đềm của một vang vọng
tình cảm, là đường Cộng-Hòa, mà tôi tạm gọi là sông Tương chảy vào
Trường-giang.
Tác
giả Trần Hồng Châu còn nói rất nhiều nữa ( bảy trang giấy) về con đường
Trần Hưng Đạo mà ông ví nó như một con sông chính có nhiều nhánh phụ
chảy vào. Ông nhắc đến phía “hạ lưu” của dòng sông Trần Hưng Đạo có cái
xóm Đề Thám của tôi với rạp hát Nguyễn văn Hảo, Ngã Tư Quốc Tế, một cách
ưu ái. Ông gọi đó là “một vùng Giang, Triết phồn hoa”, “một trong vài
tụ điểm của những người đẹp Saigon, một trong vài vương quốc của phụ nữ
đô thành, của những cái gì đem lại một tấm linh hồn yểu điệu, nồng thắm
cho trái tim miền Nam”. Ông khen cái khúc phố tôi ở có nhiều người đẹp,
điều đó đúng, vì thằng bé mười mấy tuổi là tôi trong những năm cuối của
thập niên 50 đã rong chơi cuối trời quên . học làm chứng cho ông. Tôi
đoán chắc ông đã nhiều lần lân la ở phòng trà ca vũ nhạc Tháp Ngà (Tour
d’Ivoire) nằm cùng một dãy với rạp Nguyễn Văn Hảo. ở đó thì khỏi nói, là
nơi tụ họp của bao nhiêu ca sĩ tân nhạc thời danh như Kim Tước, Mỹ Thể,
Bạch Yến, Bích Chiêu, Khánh Ngọc, người đẹp, quần áo đẹp, xe hơi đẹp,
dân chơi cũng đẹp. Trai thanh và gái lịch nói cười rộn rã. Tiếng kèn
saxophone, trombone, trumpet từ các cửa sổ trên lầu thoát ra vọng xuống
đường mê hoặc. Những bóng đèn đủ màu chớp nháy chạy vòng khung bảng hiệu
vũ trường nằm thẳng đứng càng làm cho môi son, má phấn, tóc mây trở nên
thêm huyền hoặc. Gió mát của trời đêm thoảng mùi nước hoa Channel No. 5
mân mê tà áo gợi ngất ngây. Một vùng phồn hoa. Đúng quá phải không
Người Tân Định?
Thật
ra cái gì cũng có mặt trái của nó. Người ta thường có quan niệm văn
chương thì phải hoa mỹ, bàn rộng khai triển mặt tốt và lượt bỏ những nét
tiêu cực. Thành phố Saigon, dẫu mà khó thương, cũng vẫn là thành phố
tôi đã lớn lên, đã sống, đã yêu, đã nuôi dưỡng tôi khôn lớn. Những nét
xấu của nó không ít, nhất là cái xóm Đề Thám, rồi đến cái xóm Khánh Hội
đã mang tiếng rất nhiều. Hai nơi đó có đầy đủ hết những tệ đoan của xã
hội. Đề Thám có đĩ điếm, hút sách, cờ bạc, rượu chè. Vĩnh Hội có du
đãng, trộm cướp, đá cá lăn dưa. Đã nói Saigon là thành phố có đầy đủ đặc
tính của một thành phố bến cảng tất nhiên phải hiểu cái tốt và cái xấu
cùng hiện hữu song hành bên nhau. Tôi không ca ngợi cái xấu, nhưng tôi
cũng không nhắm mắt chối bỏ sự có mặt của nó. Xã hội nào cũng có mặt
phải thắp sáng hào quang và mặt trái bị tránh né bỏ quên. Một thành phố
tân tiến ở Bắc Mỹ cũng không ra khỏi ngoại lệ nầy, cũng có khu sang
trọng, khu bình dân, cũng có những vấn nạn khó giải quyết và tệ đoan xã
hội.
Thành
phố nước văn minh tân tiến có lường gạt kiểu tinh vi hiện đại; Saigon
chậm tiến lường gạt kiểu cò con. Dọc theo tường ngăn ga xe lửa Saigon
đầu đường Phạm Ngũ Lão, vào những năm cuối của thập niên 1950, tôi thấy
có mấy người Thượng người Mường, gia tài chỉ có một cái gùi, ngồi xổm
bán thuốc dân tộc gia truyền trị bệnh tầm bậy và tà ma. Tôi bị họ níu
lại một lần. Tuy nói tiếng Việt không rành bằng một giọng khó nghe,
nhưng họ rất kiên trì giảng giải về mức công hiệu của thuốc. Trước hết,
họ kêu hoặc ngoắc một khách bộ hành dừng lại rồi làm giọng như thương
hại như thế nầy:”Chà! Cậu em đang bị bịnh nặng lắm đó! Da xanh, mặt mụn,
cổ ốm cao nhòng! Dương khí đi đâu mất hết! Di tinh, mộng tinh, hoạt
tinh, linh tinh! Hay là bị thư bùa ngải gì rồi! Lại đây, lại đây. Tui có
thuốc nầy hay lắm! Ma lai trên rừng mà còn phải chịu thua! Có năm đồng
thôi. Uống vô bảo đảm một tháng sau là hết! Không hết lợi đây tui trả
tiền lại!” Dù trước đó chưa xanh mặt nhưng nghe họ phán xong, tôi cũng
phải xanh vì sợ. Định bỏ đi thì bị níu lại:”Tui chỉ muốn cứu người làm
vui, nếu cậu không có năm đồng thì trả tui hai đồng cũng được, miễn là
cậu hết bịnh!”. Thằng nhỏ vốn cả nể nên mất toi hai đồng cho yên thân.
Gói thuốc thì quăng luôn xuống cống. Mấy ngày sau đi ngang qua đó thì
các thầy thuốc “dân tộc ít người” kia cũng đã chuồn đi chỗ khác! Đọc
phóng sự Hà Nội Lầm Than của ký giả Trọng Lang, tôi mới biết nơi chốn
thủ đô ngàn năm văn vật cũng có mặt những người Mường ngồi vĩa hè xóm
Khâm Thiên bán thuốc trị bệnh kín cho các gái nhẩy nghèo.
Trên
khúc đường Đề Thám giữa Trần Hưng Đạo và Cô Bắc có mấy tiệm may áo dài
sát liền nhau, khách hàng thuộc phái đẹp dập dìu. Nhà may Hạnh Dung rất
nổi tiếng trong giới nghệ sĩ cải lương. Bà chủ có hai cô con gái tên
Hạnh và Dung, trạc tuổi tôi. Tình nhân của bà chủ là nghệ sĩ Thành Công,
hay đến đó lắm. Mỗi ngày đi học, tôi bắt buộc phải đi ngang qua tiệm
may, chạm mặt hoài. Một lần không biết vì lý do gì, em trai của tôi và
em trai của Hạnh và Dung đánh lộn. Bạn trai của Hạnh cũng nhào vô chơi
đòn hội chợ. Em tôi chạy về nhà kêu tôi tiếp cứu. Tôi nổi máu anh hùng,
quên mất tấm thân ròm, cùng em tôi chạy trở lại chiến trường hỏi tội
“bọn côn đồ” và đấm đá một trận với thằng bạn trai đáng ghét của Hạnh.
Sau đó tôi mới biết nguyên nhân chỉ vì em tôi đi ngang qua tiệm may và
bị bọn chúng chọc ghẹo, em tôi tức quá đáp lại vỏn vẹn hai tiếng “công
ngủ”, thế là bị đánh!
Tưởng
như vậy đã yên, ai dè sau đó ít lâu, một bữa bọn tôi ba đứa gồm có chú
Mười tôi, thằng Kiệt em tôi và tôi đi học lội bộ về ngang qua đó, lại có
chuyện xảy ra. Ba chị em Hạnh, Dung đi học trường Tây cũng vừa về tới
nhà bằng xế hộp Peugeot 403. Hạnh Dung mặc đồ đầm bước xuống xe, tôi mới
đưa mắt liếc một cái thì con chó berger từ trong tiệm may phóng ra sủa
mừng bọn chủ. Chú Mười tôi (chú út, nhỏ hơn tôi mấy tháng) thích chọc
chó hơn là ngó gái nên dậm chân giả bộ gừ gừ. Con chó quay qua, thằng em
tôi sợ chó cắn nên chạy, hai chú cháu cũng chạy luôn, thế là con chó
chạy theo và ngoạm vô ống giò của tôi một phát rách da chảy máu, báo hại
tôi phải nghỉ học ngày hôm sau để cha tôi chở đi viện Pasteur chích
ngừa bịnh dại. Tôi bị lụi kim vô bụng cả chục mũi, đau còn hơn chó cắn.
Ngã
tư Đề Thám – Cô Bắc có hai tiệm nước (bán cà-phê, hủ tiếu) chéo góc
nhau tây-bắc và đông-nam, góc tây-nam là phông-tên nước công cộng, góc
đông-bắc có trường tư-thục Tiên-Long. Trường nầy rất có uy tín, với ban
giáo-sư tên tuổi giàu kinh nghiệm, cỡ tuổi ba mươi mấy trở lên, phân nửa
đã già. Pháp văn lúc bấy giờ vẫn còn là sinh ngữ chánh; thầy Đồng văn
Nam với dáng người hom hem xổ tiếng Pháp nói với học trò, bắt học trò
quỳ gối lia chia nhưng vô cùng tận tụy với nghề nghiệp, luôn luôn tự
đánh máy bài giảng (cours) trên giấy pelure phát cho học trò. Tôi ngồi
gõ keyboard bài viết nầy mà hình dung lại cảnh ông phải lụm khụm đánh
máy chữ nhiều lần, mỗi lần từng xấp sáu tờ giấy mỏng có lót xen kẽ năm
tờ giấy than được dùng đi dùng lại, tôi thấy tội nghiệp cho ông quá.
Thầy Hồ Công Mến dạy hóa học cũng là kỹ sư ở Pháp về, đầu tóc bạc phơ,
luôn luôn thắt cravate mặc complet màu ngà giống như một Trần Văn Hương.
Thầy Lê Thọ Xuân cao gầy dạy Sử Địa là một học giả vừa dạy học vừa làm
quản lý nhà in Maurice in sách cho nhà xuất bản Phạm Văn Tươi nên thân
với học giả Nguyễn Hiến Lê, khuyên học trò chúng tôi nên mua cuốn bút ký
phóng sự Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê mà đọc. Thầy
Tư Mã Lộ dạy Việt văn chắc cũng gần sáu chục, mặt đen, mang kính cận
dầy, rất ngọt ngào với đám học trò, gọi đứa nào cũng bằng con hết. Thầy
Phong dạy vật lý tương đối còn trẻ, dáng dấp cao lớn khỏe mạnh. Thầy
Đông lai Tây, trắng trẻo, mắt sâu, tóc dợn sóng, dạy Anh-văn sinh-ngữ
hai bằng quyển L’Anglais Vivant, sau đó mới đổi qua English for Today
theo chương trình mới của Bộ Giáo Dục. Thầy Trần Hiếu Trung dạy vẽ phát
họa bằng bút chì, thật chậm và thật kỹ, mỗi tuần chỉ có một giờ làm tôi
sốt ruột. Tôi chỉ lo kẽ ô hình mấy minh tinh Doris Day, Linda Blair,
Vivien Leigh, Debbie Raynold, Audrey Hepburn, Jayne Mansfield, và cóp-pi
lại bằng màu nước để tặng cho tụi bạn gái trong lớp. Thầy dạy nhạc là
nhạc-sĩ Văn Lương, tác giả của những bản nhạc Tía Em, Má Em, Anh Đi Giữa
Trời Xuân, Thao Thức, Nhìn Theo Xe Hoa, Tiếng Hát Trên Ngàn, Giấc Mơ
Không Đến Hai Lần, Tình Không Biên Giới, Người Yêu Của Tôi, Yêu Không
Nói, Em Vẫn Là Hoa Khôi Thành Phố, Trăng Với Tuổi Trẻ, v.v. Thầy Văn
Lương nhỏ con thôi, vậy mà ông lái một chiếc Harley Davidson đồ sộ, máy
nổ rầm rầm, đúng là nghệ sĩ chịu chơi; trong khi những ông thầy khác đi
dạy bằng xe tắc-xi, xe xích-lô đạp, xe Mobilette mà thôi.
Dường như trường Tiên Long là một ổ cách mạng, một tiểu tổ đảng phái
hay một chi nhánh hội kín làm chính trị, vì cứ lâu lâu lại có một ông
thầy biến mất, lâu lâu lại có công an mật vụ xuất hiện ở văn phòng nói
chuyện với ông hiệu trưởng rất nghiêm trọng. Một vài thằng bạn trong lớp
rõ chuyện nói với tôi là “thầy A, thầy B vô nằm trong Chí-Hòa rồi!” Tôi
là đứa vô tư, đầu óc đơn giản, ham chơi hơn ham học, ham làm chuyện nhỏ
hơn chuyện lớn, cho nên tôi không mấy quan tâm đến việc làm ngoài lớp
học của mấy ông thầy. Lắm lúc nghĩ lại, tôi nhận thấy việc học hành của
tôi gặp nhiều lận đận một phần do tôi khăng khăng nghe theo lời khuyên
củ
Facebook Haco Chi
Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012
HỌC CÁCH ĐỂ …GẶP MAY MẮN
Trên
thế giới có 3 loại người: người may mắn, người xui xẻo và bình thường.
Ai cũng muốn là người may mắn, nhưng không phải ai cũng được như thế.
Nhưng nếu biết cách, bạn sẽ là người may mắn.
Hồi ký: Khúc tiêu đồng (Kỳ 1)
Ông Nội tôi tên là Hà Thược tự Hà Ngại (thường gọi Án Ngại), sinh năm 1890 tại làng Phú quý Na khom, nay là thôn Na khom , xã Điện quang, huyện Điện Bàn , tinh Quảng Nam.
Ông tôi là cháu đời thứ 13 dòng dõi HÀ PHƯỚC thuộc Tộc Hà ở Quảng Nam, (nhánh 6, chi 3, phái 3 Phú quý Na khom - căn cứ vào quyển Gia Phả Họ Hà năm 1986). Ông tôi sinh ra trong gia đình “theo đòi nho học” (theo lời kể của Ông), nhưng gia đinh nghèo lắm, không đủ tiền mua sách, phải mượn sách của các làng lân cận để học.
Ông tôi là học trò nghèo , nhưng nhờ hiếu học nên đỗ đạt và được bổ làm quan.
Khi tôi còn bé vẫn thường nghe Ba Mẹ tôi kể về Ông tôi, rằng là ” Ông Nội của con làm Quan Bố chánh Án sát mấy mươi năm....là đã giúp người này, người kia...” , tôi nghe mà cứ ngỡ như nghe chuyện cổ tích.
Nay tôi được đọc Hồi ký “Khúc Tiêu Đồng” của Ông , tôi mới hiểu tường tận phần nào cuộc đời làm quan của Ông tôi.
Về Hán Học Ông tôi thi dỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý 1912 tại trường Thừa Thiên. Về Tây học Ông tôi tốt nghiệp Trường Hậu Bổ ở Huế ( Trường Hậu Bổ dành cho những người khoa giáp , ai được vào học xem như sơ bổ rồi , tức là đã được bổ dụng , sẽ ra làm quan ) . Tốt nghiệp Ông tôi được thăng hàm Trước tác (6/2 ) trong khi các vị cử nhân khác chỉ được thăng Biên tu. Sau đó Ông tôi được bổ vào học tập chính sự và làm Hậu Bổ ở tỉnh Bình định.
Những phẩm hàm Ông tôi đã kinh qua :
-Hậu Bổ tỉnh Bình định (hàm Tùng lục phẩm *) làm việc 2 năm.
-Tri huyện Phù Cát,tỉnh Bình Định (hàm Chánh lục phẩm *) làm việc 6 năm.
-Tri huyện Hậu lộc, tỉnh Thanh hóa. (Hậu lộc là huyện nhỏ và nghèo nhất tỉnh Thanh hóa lúc bấy giờ)
-Tri huyện Yên định, tỉnh Thanh hóa (Yên định là huyện lớn và giàu nhất tỉnh Thanh hóa lúc bấy giờ)
-Tri phủ Đông sơn, tỉnh Thanh hóa (hàm Tùng ngũ phẩm *).
-Tri phủ Thiệu hóa, tỉnh Thanh hóa.
( Thời gian Ông tôi làm tri huyện 2 huyện Hậu lộc và Yên định, tri phủ 2 phủ Đông sơn và Thiệu hóa là 10 năm.)
-Tri phủ Triệu phong , tỉnh Quảng tri , làm việc 11 tháng.
-Án sát ** tỉnh Bình thuận (hàm Tùng tam phẩm * ) làm việc 4 năm 1 tháng.
-Phủ Thừa tỉnh Thừa thiên ( hàm Tùng tam phẩm như Án sát) làm việc 2 năm.
-Án sát** Hà tỉnh ( năm 1940 )
-Bố chánh ** Nghệ an ( hàm Chánh tam phẩm * )
-Quản đạo ** Kontum ( Quản đạo ngang hàm Bố chánh )
-Tuần vũ** Kontum ( hàm Tùng nhị phẩm * )
Sau khi Ông tôi làm Tuần vũ Kontum một thời gian thi đến CMT8 năm 1945 , Ông tôi giao chánh quyền cho CM và được về nghĩ hưu.
Thời gian Ông tôi nghĩ hưu về sống tại Thành nội Huế, Ông tôi đi dạy thêm chữ Nho , đến năm 1960 sức khỏe Ông tôi giảm sút nên Bác Cả đưa Ông tôi vào Sài gòn sống chung để chăm sóc.
Ông tôi mất ngày 14 tháng giêng năm Bính thìn ( 1976 ). Hiện nay tro cốt của Ông tôi đang gởi thờ tại Chùa Vĩnh Nghiêm thành phố HCM.
Với tấm lòng kính yêu và ngưỡng mộ đối với Ông Nội , đồng thời được sự khuyến khich của các anh trong Tộc, tôi xin mạn phép Ông , “ trình làng ” Hồi ký “ Khúc Tiêu Đồng ” của Ông tôi, với mong muốn cung cấp ít nhiếu thông tin về cuộc đời làm quan của Ông tôi , đối với quí cô- bác- anh - chị trong Tộc Hà có sự quan tâm tìm hiểu .
Rất mong được sự lượng thứ nếu có điều chi sơ sót.
PHỤ CHÚ :
*Theo quan chế triều Nguyễn có 9 phẩm trật ,
từ Nhất phẩm đến Cửu phẩm .
Nhất phẩm là phẩm trật lớn nhất , Cửu phẩm là phẩm trật nhỏ nhất .
Trong mỗi phẩm có trật Chánh và trật Tùng (Chánh nhất phẩm , Tùng nhất phẩm)
trật Chánh cao hơn trật Tùng.
**Theo cách tổ chức hành chánh của các triều
trước và triều Nguyễn lúc bấy giờ , mỗi tỉnh
lớn có 3 quan là Tổng đốc , Bố chánh , Án sát .
Tỉnh nhỏ chỉ có Tuần vũ và Án sát . Tỉnh nhỏ
hơn nữa chỉ có Quản đạo .
Tổng đốc , Tuần vũ , Quản đạo là chức
Tỉnh trưởng sau năm 1954.
Cháu nội Hà Thị Hải Vân
*********************************************************************************
Quản trị blog - Tên ông (là Hà Ngại nhưng in nhầm tên là Hà Ngãi) có trong quyển " HỌ HÀ các nhà khoa bảng, các nhân vật lịch sử, văn bia " của tác giả Đại tá Hà văn Sĩ do Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc xuất bản năm 2004.
Lời giới thiệu của Quản trị Blog :
Cụ Hà Ngại sinh năm 1890 (Canh Dần), tại làng Phú quý Na khom, nay là thôn Na khom , xã Điện quang, huyện Điện Bàn , tinh Quảng Nam. Đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý, niên hiệu Duy Tân 6 (1912).
Làm Hậu bổ Bình Định(*), có tác phẩm “Khúc tiêu đồng”.
“Khúc tiêu đồng” là một cuốn tự truyện – hồi ức. Kể chuyện học, chuyện đi thi, làm quan…, người thực việc thực, rất sinh động. So với “Lều chõng” của Ngô Tất Tố”, “Nhà Nho” của Chu Thiên thì nó là tài liệu thực lục, không phải hư cấu, nên đọc thú vị, nhất là những thế hệ sau này, khi khoa cử Nho học đã trở thành dĩ vãng xa vời...
Cụ mất ngày 14 tháng giêng năm Bính thìn ( 1976 ).
Sách do Nguyễn Đắc Xuân sưu tầm và cung cấp.Chúng tôi trích đăng một số đoạn hay nhất.
“… Lúc tôi 7 tuổi, cha tôi làm lễ khai tâm cho tôi, dùng gà xôi, hoa quả, hương đèn, trầu rượu cúng Thánh. Có sắm bút nghiên, giấy mực mới để trên bàn. Cha tôi khấn vái và lạy rồi bảo tôi lạy. Cha tôi sai tôi lấy viên mực mài trên nghiên, lấy cây bút mới thấm mực viết vào quyển vở mới tám chữ: “Thiên tích thông minh, thánh phò công dụng”, nghĩa là trời phú cho tính thông minh, thánh giúp làm nên công nghiệp rồi dạy từng chữ nho cho tôi học thuộc lòng. Sau đó, chọn ngày tốt, cha tôi đem tôi đến trường thọ giáo với thầy.
Lúc ấy, nhà tôi và nhà ông Hương Công trong xóm chung nhau rước thầy Bốn ở làng Chu Bái cho chúng tôi học. Vì chúng tôi nghèo nên phải chung nhau mới rước nổi thầy. Trường học chừng trên hai mươi học trò. Chúng tôi dùng giấy trắng đóng sách vở, còn viết tập thì dùng lá chuối sứ; chỉ có lá chuối sứ mới viết được chứ các loại lá chuối khác thì không ăn mực. Sở dĩ phải tập trên lá là để đỡ tiền mua giấy. Mà học chữ nho, cần phải viết chữ cho đẹp; viết chữ đẹp cũng đã nổi tiếng rồi. Trên mỗi miếng lá chuối, thầy tôi viết một chữ nơi đầu, rồi học trò xem đó viết theo. Khi đi học, trò nào cũng đem lá chuối như mang sách vở và cũng giữ cẩn thận như mang sách vở vậy.
Thầy giáo làng
Chúng tôi ngồi xếp bằng, vừa học vừa lắc qua lắc lại; có lẽ mỏi quá phải lắc rồi lâu ngày thành thói quen; học trò lớn cũng thế, khiến thành ra một môn thể dục tự nhiên.
Chúng tôi đua nhau lo học cho thuộc bài để khỏi bị thầy quở phạt. Mấy trò lớn hơn tôi, học rất khuya; buồn ngủ đã rục mà họ vẫn gắng tụng bài. Còn tôi, hễ buồn ngủ là tôi đi ngủ. Nhưng đến khoảng ba, bốn giờ sáng tôi thức dậy, lấy cây hương thắp rọi sách vở mà học; giờ ấy, thanh tịnh, đầu óc tỉnh táo, học mau thuộc. Bởi vậy, khi thầy dò bài, tôi thuộc được thầy khen. Đến ngày mồng năm, ngày Tết, phụ huynh học trò đem gạo nếp, đường, đậu và tiền, ít một vài quan, nhiều ba bốn quan đến tết thầy. Số tiền ấy tùy giàu nghèo và tùy hảo tâm. Học trò nghèo, thầy không lấy tiền. Nhưng có khi muốn mời cho được ông thầy đúng theo ý lựa chọn thì không giản dị như vậy. Chủ nhà phải bảo đảm với thầy một năm Tết thầy bao nhiêu nhất định. Rồi họ tùy nghi phân bổ cho nhau.
Sau đó hai năm, tôi vào học thầy cử Nguyễn Nhu ở cùng Châu với tôi. Châu đây là xã. Quê chúng tôi là một cái Gò Nổi, bốn bề là sông. Vì đất phù sa mới bồi luôn nên nghề trồng dâu nuôi tằm phát triển sâu rộng. Chỉ có những đất thổ cao ráo mới gieo lúa tháng 10 hay trồng mía để nấu đường; không cấy lúa mùa tháng tám. Gò Nổi ấy khá lớn, rộng bằng 1/5 hạt Điện Bàn. Người ta quen gọi đất chúng ta là ba Châu. Châu chúng tôi có ba thôn: Phú Quý, Đông Mỹ, Đông Thành. Dân tuy riêng mà điền (ruộng) thì chung, ba thôn chỉ có một quyển bộ điền. Châu chọn người trong ba thôn đặt chức việc chung: Cai Châu coi toàn Châu, Thủ bộ giữ quyển bộ điền, Thủ sắc giữ sắc thần. Thầy Cử Nguyễn Nhu ở thôn Đông Thành còn tôi ở thôn Phú Quý. Lúc tôi thọ giáo, thầy tôi mới là học sinh, tức là một chức vị nhờ hạch đậu được ăn lương của chính phủ mà đi học, ai đậu thì đương nhiên có địa vị ở làng. Ngày xưa, như thế cũng đã danh giá lắm với làng, tổng rồi. Thầy tôi nhà khá, thấy tôi học được, yêu tôi lắm. Đã mấy lần, thầy cho tôi một xách ngô tươi, bảo đem về dùng.
Vì tục lệ thời ấy tôn trọng khoa mục tột bậc, nên uy quyền thầy tôi to lớn lắm. Có một bữa, tôi thấy ông trùm trưởng Cần đến mời thầy tôi đi dự tế, ông trùm ấy quỳ sát đất vòng tay thưa trình rất cung kính. Ít bữa sau, tôi nghe ông trùm ấy nói chuyện với bạn tôi rằng: “Tôi là trùm trưởng mà con tôi là Hương, thật to đầu khó rúc”. Trùm trưởng có nhiệm vụ sai bắt dân phu làm việc làng, là thủ hạ của Lý trưởng; Hương bộ là người đã lạc quyên cho làng đôi ba trăm quan tiền để chi tiêu việc làng rồi làng trừ tạp dịch cho, như khỏi canh gác, đắp đường xóm… Ý ông Cần nói là cha con ông có những địa vị cao sang, sau này khó làm việc hèn hạ. Ông Cần thật thà, trung hậu, tuổi ngang phụ huynh tôi, tôi đâu dám mỉa mai gì. Duy tôi thấy tâm lý người lúc ấy thật háo danh, an phận. Mới 50 năm qua mà thế đạo nhân tâm thay đổi hết…
Trong lúc thầy trò tôi đang vui vẻ, chẳng may giữa cha tôi và thầy tôi vì việc làng cãi cọ rồi hai bên hiềm khích lẫn nhau. Nguyên lúc ấy, những tộc mà xưa kia ông bà đến trước chiêu dân, lập ấp, khai khẩn điền thổ, được khai trình lên, rồi nhà vua sắc phong Tiền hiền, Hậu hiền thờ cúng hai bên đình thờ Thần. Những tộc Tiền hiền ấy, có ý khinh miệt những tộc đến sau hay mới đến ở năm, ba đời. Cha tôi là con cháu Tiền hiền, còn tộc thầy tôi mới đến năm đời, sự bất hòa giữa hai ông bắt nguồn từ đó. Mà không chỉ làng tôi, làng Bảo An ở bên cạnh cũng vì việc Tiền hiền mà kiện nhau trong mấy năm, tổn phí cả hai bên đều rất nhiều. Sau phải ra đến Bộ mới giải quyết xong. Đó là dân chính mà đến ở sau còn phiền lụy như thế chứ nói gì dân ngụ cư: Dân ngụ cư là dân ở các nơi khác tới xin mảnh đất làm nhà, thường bị dân chính quán bạc đãi, xem như hạng người vô giá trị. Thường năm làng tế thần, dân ngụ cư phải lên núi đốn bổi về để thui trâu bò. Những việc bị coi là hèn hạ, dân chính quán không thèm làm, đều sai dân ngụ cư làm hết.
Vì cha tôi thù ghét thầy tôi, nên tôi cũng thù ghét theo. Rồi trong khi tiếp xúc, do lòng hẹp hòi cạn nghĩ của con nít, tôi thấy chuyện gì cũng ngờ là thầy tôi ghét tôi và không chăm dạy tôi nữa. Một bữa, tôi thưa với cha tôi, xin đi học trường khác. Cha tôi nói:
- Việc cha với thầy Cử thì mặc kệ; phần con thì phải giữ đạo thầy trò cho có thủy chung. Thầy con không ghét con đâu, con chớ hiểu lầm…”
(Còn tiếp)
Hồi ký: Khúc tiêu đồng (Kỳ 2)
…
Tôi bất đắc dĩ phải đi học lại, nhưng trong lòng phân vân, nghi ngờ
mãi. Vừa lúc ấy, gặp hai người quen trong làng đang học tại trường thầy
Tú Ngô Học làng Tân Phong, tôi nhờ hai anh ấy đưa sang học. Hai anh ấy
nhận lời. Sau khi cậy người báo cáo cho cha mẹ biết, tôi theo hai bạn
qua Tân Phong. Từ làng tôi qua Tân Phong cách một con sông nhỏ, đường
đất chừng hai cây số. Vì đời trước tôn trọng địa lý nên phần mộ tiền
nhân chúng tôi táng tại làng ấy khá nhiều, thành ra tôi cũng không phải
lạ cảnh lạ người lắm.
Thầy
Tú Ngô Học thi đỗ bốn khoa Tú Tài, mở trường dạy học đã lâu. Trường ấy
có danh tiếng trong hạt. Thầy tôi, cử nhân Nguyễn Nhu(1) và ông thủ khoa Võ Hoành(2) vốn là học trò trường ấy. Khi hai bạn tôi thưa với thầy Tú xin cho tôi vào học, thầy nói:
- Trò này còn nhỏ quá, đợi cha trò đến xin, tôi sẽ nhận.
Tôi lập tức về nhà thú tội và thuật đầu đuôi. Cha tôi nghe, giận dữ quát:
- Làm như vậy, thầy Cử ngỡ là cha hẹp lượng. Vả lại, một mình con đường đột đến xin học, thầy Tú không nhận là phải lắm. Còn sợ thầy Tú trách đến cha.
Cha tôi không chịu đi. Mẹ tôi phải năn nỉ mấy lần mới chịu đi. Sang đến nơi, nghe ngỏ ý, thấy Tú Ngô Học vui lòng cho tôi nhập học.
Sau này, lớn lên tôi mới hối hận về việc làm dại dột này của mình. Thật ra, sự nghi ngờ của tôi đối với thầy Cử Nguyễn đều sai lầm. Thầy tôi đâu có lòng hẹp hòi như tôi tưởng. Lại không may cho tôi là không còn cơ hội để tạ tội cùng thầy: hai năm sau, đi thi Hội về, thầy Cử cảm bệnh rồi từ trần. Anh em bạn học chúng tôi hội họp lập đồng môn cho thầy, quyên cúng tiền bạc, mua ruộng đất để làm tư bản, mỗi năm đến ngày kỵ lạp, sắm lễ vật đến cúng kỵ.
Thầy Tú Ngô có hai ngôi nhà cao, rộng ba gian hai chái. Nhà dưới dùng để ở. Nhà trên dùng làm trường học. Tại đây, căn giữa có kê một bộ phản vuông để hai gối xếp cho thầy ngồi. Trước phản có bộ trường kỷ thật đẹp để tiếp khách. Còn hai bên và hai chái đều lót phản dài, có chỗ ngậm vào cột; trên phản trải chiếu để học trò ngồi. Giữa nhà, trên cao có một bức hoành viết ba chữ Đức lưu quang, các cột đều treo liễn cẩn xà-cừ.
Tuy tôi còn nhỏ, nhưng đi học là cốt để đi thi, cho nên phải biết rõ sẽ thi những gì để chuẩn bị sẵn từ bấy giờ. Thầy Tú Ngô cho chúng tôi biết và trong việc dạy, thầy cũng rất quan tâm những phép tắc thi cử.
Thời đó, thi Hương để lấy cử nhân, tú tài thì gồm có bốn trường, tức là bốn lần làm bài. Về phép làm bài thì trường Nhất Kinh Nghĩa gồm hai bài một Kinh, một Truyện; Kinh là ra đề trong 5 Kinh: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu; Truyện là ra đề trong 4 Truyện: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Học trò thi chỉ làm một bài Kinh, một bài Truyện là đủ quyển; nhưng quan trường ra đến bảy đề: 5 Kinh, 2 Truyện để cho ai kiêm trị được cứ gắng làm hết 7 đề, sẽ được nhiều điểm, còn ai chỉ làm một Kinh, một Truyện, có quyền lựa chọn. Trường Nhì: một bài phú ra trong Kinh, Truyện, Tử, Sử. Người xưa thường nói: ai thông minh mới được thi phú và những người thi hay phần nhiều là chính nhân quân tử. Trường ba: một bài văn mạo, nghĩa là đầu các đề văn sách có một câu tổng quát ý nghĩa cái đề, rồi ở dưới hỏi các đời trước thịnh suy, các việc làm phải trái đều theo ý nghĩa câu ấy. Có khi hỏi đến Kim văn; đó là một thể văn xuôi không vần, tựu trung có đoạn cũng đối nhau. Trường tư: lược bị tam trường là một bài kinh nghĩa, hai vận phú và một bài văn sách ngắn.
Thầy Tú Ngô mỗi ngày dạy một buổi mai; theo trường quy của chính phủ mà dạy. Mỗi tháng một kỳ Kinh Nghĩa, một kỳ thi phú, một kỳ văn sách và một kỳ lược bị tam trường. Kỳ lược bị làm ở nhà thầy một buổi mai. Còn ba kỳ kia đem về nhà làm rồi đem quyển nạp, mỗi tháng bốn buổi bình văn. Bình văn là đem những quyển văn hay của học trò ra bình cho thầy trò cùng nghe. Phải là người có giọng tốt (càng tốt chừng nào càng hay chừng đó), mới bình được. Khi bình, cầm quyển lên, ngâm nga như hát, chỗ lên, chỗ xuống, phải biết triệt để dùng cuống lưỡi để chuyển câu cho uyển chuyển. Những lúc bình văn mà lại được người nghe có giọng hay thường lôi cuốn nhiều người tới đứng nghe, như nghe diễn tuồng. Người bình văn nhiều khi học chẳng ra gì, nhưng cũng có tiếng, dù không được trọng bằng người viết chữ tốt.
Những ngày khác, thầy Tú Ngô giảng sách. Lúc tám giờ sáng mai, thầy chít khăn nhiễu, mặc áo rộng đen, chậm rãi đi ra, lên phản giữa ngồi xếp bằng tựa tay vào chồng gối xếp. Lúc ấy, học trò đã đứng dậy cả rồi, thầy ra lệnh mới được ngồi; không khí yên lặng, trang nghiêm lắm. Học trò từ khoảng 40 đến 50 người đều lớn tuổi, chỉ có tôi mười bốn tuổi là nhỏ nhất. Trong số ấy, có sáu người tỉnh Phú Yên ra học đều trên ba mươi tuổi. Thầy Tú thấy tôi siêng học, khen tôi. Mấy anh Phú Yên nói với tôi rằng: “Thằng bé con học được mấy chữ mà thầy khen?”. Tôi giận, lên thưa, thầy cười và bảo học trò ngồi gần đấy phải làm tờ khai (có lẽ thầy muốn chúng tôi… tập làm tờ khai, chứ không phải chú ý việc kiện). Anh em khai là các bạn ở Phú Yên quả có nói như thế. Rồi trong mấy tờ khai kia, các bạn ở Phú Yên có câu: Bổn thổ nhân vị bổn thổ nhân nghĩa là người hàng xứ họ binh vị nhau. Thầy cười xử hòa.
Lúc còn học với thầy Tú Ngô, cha tôi gửi tôi trọ ở nhà ông Thủ Trượng, cũng ở làng Tân Phong. Thời bấy giờ, chưa có tục nấu cơm tháng mà chỉ vì hiếu học nên các nhà bằng lòng nuôi hộ học sinh. Hai bạn cùng ở với tôi tự nấu lấy ăn uống, chủ nhà không đòi hỏi gì. Còn tôi, chỉ phải trả mỗi tháng một đồng bạc.
Lều chõng đi thi...
Ông
Thủ Trượng nhà có ruộng đất, trâu bò, chuyên làm nghề nông, lại ở miền
núi. Trong lúc cấy gặt xong, ông thường tổ chức đi núi để lấy gỗ và củi.
Lúc ấy chưa có diêm, quẹt lửa. Mỗi nhà ăn cơm chiều rồi đều phải dùng
một khúc cây khô hay phân trâu bò phơi khô để nhóm lửa phòng khi cần
dùng. Còn đi đường, muốn có lửa dùng thì họ làm sẵn một khúc bùi nhùi, bằng một thứ cây trong rừng tên là đồng đình,
tước nhỏ ra bện lại với vài viên đá lượm ở bìa rừng cùng cái dao đánh
lửa đã rèn sẵn. Khi cần lửa, họ để bùi nhùi sát đá, cầm dao liếc mạnh
vào viên đá, tức thì lửa trong đá bén vào bùi nhùi bùng cháy. Khi đi
núi, ông Thủ Trượng đem bùi nhùi và đá theo lại gói cơm và dưa muối,
trầu chè trong mo cau đem đi. Ông ấy có cây rựa quéo đẹp lắm, bén ngọt,
đi đâu cũng cầm tay.
Một hôm, thấy ông Thủ Trượng cùng hai anh con trai, bốn anh giúp việc, cầm rựa sắc đi, bọn chúng tôi xin theo. Ông vui vẻ chấp nhận. Chúng tôi đi hơn một giờ tới núi, ông Thủ đem bùi nhùi và dao nhen một đống lửa để hút thuốc và nấu nước uống. Chúng tôi thích thú cây cao, bóng mát, chim hót, hoa cười, phong cảnh nên thơ. Thỉnh thoảng khỉ vượn cả bầy hiện ra, thấy chúng tôi, như sợ rồi lại như không sợ, con này leo cây ngồi nhìn, con kia xuống suối dòm lên ra chiều rất tò mò… Chúng tôi hái sim, chà là ăn thỏa thích còn dư thì gói lại. Mấy người kia, kẻ thì hạ cây, người thì đốn củi. Vì núi ấy là chỗ hái củi của nhân dân khắp miền đó nên không bao giờ có cọp hay thú dữ, rắn độc. Chúng tôi vui thích rong chơi không hay mặt trời đã xế. Ông Thủ gọi chúng tôi lại chỗ bờ khe, chọn nơi sạch sẽ, mát mẻ, tụ nhau ăn cơm. Cơm nguội với dưa muối mà ăn ngon lành hơn cá thịt ở nhà. Cơm xong, có người nằm ngủ trên những tảng đá lớn, phẳng phiu, hoặc trên đám cỏ xanh mơn mởn, sạch bóng, hay chụm nhau trò chuyện. Đến chừng bốn giờ, gió nồm hiu hiu thổi lên, trời mát, chúng tôi kéo nhau về…
(Còn tiếp)
............
1. Nguyễn Nhu: Cử Nhân năm Canh Tý (Thành Thái 12, 1900) người xã Đông Thành (Gò Nổi).
2. Võ Hoành: xã Long Phước (Duy Xuyên), Cử Nhân (1903), Phó Bảng (1910).
Tôi lập tức về nhà thú tội và thuật đầu đuôi. Cha tôi nghe, giận dữ quát:
- Làm như vậy, thầy Cử ngỡ là cha hẹp lượng. Vả lại, một mình con đường đột đến xin học, thầy Tú không nhận là phải lắm. Còn sợ thầy Tú trách đến cha.
Cha tôi không chịu đi. Mẹ tôi phải năn nỉ mấy lần mới chịu đi. Sang đến nơi, nghe ngỏ ý, thấy Tú Ngô Học vui lòng cho tôi nhập học.
Sau này, lớn lên tôi mới hối hận về việc làm dại dột này của mình. Thật ra, sự nghi ngờ của tôi đối với thầy Cử Nguyễn đều sai lầm. Thầy tôi đâu có lòng hẹp hòi như tôi tưởng. Lại không may cho tôi là không còn cơ hội để tạ tội cùng thầy: hai năm sau, đi thi Hội về, thầy Cử cảm bệnh rồi từ trần. Anh em bạn học chúng tôi hội họp lập đồng môn cho thầy, quyên cúng tiền bạc, mua ruộng đất để làm tư bản, mỗi năm đến ngày kỵ lạp, sắm lễ vật đến cúng kỵ.
Thầy Tú Ngô có hai ngôi nhà cao, rộng ba gian hai chái. Nhà dưới dùng để ở. Nhà trên dùng làm trường học. Tại đây, căn giữa có kê một bộ phản vuông để hai gối xếp cho thầy ngồi. Trước phản có bộ trường kỷ thật đẹp để tiếp khách. Còn hai bên và hai chái đều lót phản dài, có chỗ ngậm vào cột; trên phản trải chiếu để học trò ngồi. Giữa nhà, trên cao có một bức hoành viết ba chữ Đức lưu quang, các cột đều treo liễn cẩn xà-cừ.
Tuy tôi còn nhỏ, nhưng đi học là cốt để đi thi, cho nên phải biết rõ sẽ thi những gì để chuẩn bị sẵn từ bấy giờ. Thầy Tú Ngô cho chúng tôi biết và trong việc dạy, thầy cũng rất quan tâm những phép tắc thi cử.
Thời đó, thi Hương để lấy cử nhân, tú tài thì gồm có bốn trường, tức là bốn lần làm bài. Về phép làm bài thì trường Nhất Kinh Nghĩa gồm hai bài một Kinh, một Truyện; Kinh là ra đề trong 5 Kinh: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu; Truyện là ra đề trong 4 Truyện: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Học trò thi chỉ làm một bài Kinh, một bài Truyện là đủ quyển; nhưng quan trường ra đến bảy đề: 5 Kinh, 2 Truyện để cho ai kiêm trị được cứ gắng làm hết 7 đề, sẽ được nhiều điểm, còn ai chỉ làm một Kinh, một Truyện, có quyền lựa chọn. Trường Nhì: một bài phú ra trong Kinh, Truyện, Tử, Sử. Người xưa thường nói: ai thông minh mới được thi phú và những người thi hay phần nhiều là chính nhân quân tử. Trường ba: một bài văn mạo, nghĩa là đầu các đề văn sách có một câu tổng quát ý nghĩa cái đề, rồi ở dưới hỏi các đời trước thịnh suy, các việc làm phải trái đều theo ý nghĩa câu ấy. Có khi hỏi đến Kim văn; đó là một thể văn xuôi không vần, tựu trung có đoạn cũng đối nhau. Trường tư: lược bị tam trường là một bài kinh nghĩa, hai vận phú và một bài văn sách ngắn.
Thầy Tú Ngô mỗi ngày dạy một buổi mai; theo trường quy của chính phủ mà dạy. Mỗi tháng một kỳ Kinh Nghĩa, một kỳ thi phú, một kỳ văn sách và một kỳ lược bị tam trường. Kỳ lược bị làm ở nhà thầy một buổi mai. Còn ba kỳ kia đem về nhà làm rồi đem quyển nạp, mỗi tháng bốn buổi bình văn. Bình văn là đem những quyển văn hay của học trò ra bình cho thầy trò cùng nghe. Phải là người có giọng tốt (càng tốt chừng nào càng hay chừng đó), mới bình được. Khi bình, cầm quyển lên, ngâm nga như hát, chỗ lên, chỗ xuống, phải biết triệt để dùng cuống lưỡi để chuyển câu cho uyển chuyển. Những lúc bình văn mà lại được người nghe có giọng hay thường lôi cuốn nhiều người tới đứng nghe, như nghe diễn tuồng. Người bình văn nhiều khi học chẳng ra gì, nhưng cũng có tiếng, dù không được trọng bằng người viết chữ tốt.
Những ngày khác, thầy Tú Ngô giảng sách. Lúc tám giờ sáng mai, thầy chít khăn nhiễu, mặc áo rộng đen, chậm rãi đi ra, lên phản giữa ngồi xếp bằng tựa tay vào chồng gối xếp. Lúc ấy, học trò đã đứng dậy cả rồi, thầy ra lệnh mới được ngồi; không khí yên lặng, trang nghiêm lắm. Học trò từ khoảng 40 đến 50 người đều lớn tuổi, chỉ có tôi mười bốn tuổi là nhỏ nhất. Trong số ấy, có sáu người tỉnh Phú Yên ra học đều trên ba mươi tuổi. Thầy Tú thấy tôi siêng học, khen tôi. Mấy anh Phú Yên nói với tôi rằng: “Thằng bé con học được mấy chữ mà thầy khen?”. Tôi giận, lên thưa, thầy cười và bảo học trò ngồi gần đấy phải làm tờ khai (có lẽ thầy muốn chúng tôi… tập làm tờ khai, chứ không phải chú ý việc kiện). Anh em khai là các bạn ở Phú Yên quả có nói như thế. Rồi trong mấy tờ khai kia, các bạn ở Phú Yên có câu: Bổn thổ nhân vị bổn thổ nhân nghĩa là người hàng xứ họ binh vị nhau. Thầy cười xử hòa.
Lúc còn học với thầy Tú Ngô, cha tôi gửi tôi trọ ở nhà ông Thủ Trượng, cũng ở làng Tân Phong. Thời bấy giờ, chưa có tục nấu cơm tháng mà chỉ vì hiếu học nên các nhà bằng lòng nuôi hộ học sinh. Hai bạn cùng ở với tôi tự nấu lấy ăn uống, chủ nhà không đòi hỏi gì. Còn tôi, chỉ phải trả mỗi tháng một đồng bạc.
Lều chõng đi thi...
Một hôm, thấy ông Thủ Trượng cùng hai anh con trai, bốn anh giúp việc, cầm rựa sắc đi, bọn chúng tôi xin theo. Ông vui vẻ chấp nhận. Chúng tôi đi hơn một giờ tới núi, ông Thủ đem bùi nhùi và dao nhen một đống lửa để hút thuốc và nấu nước uống. Chúng tôi thích thú cây cao, bóng mát, chim hót, hoa cười, phong cảnh nên thơ. Thỉnh thoảng khỉ vượn cả bầy hiện ra, thấy chúng tôi, như sợ rồi lại như không sợ, con này leo cây ngồi nhìn, con kia xuống suối dòm lên ra chiều rất tò mò… Chúng tôi hái sim, chà là ăn thỏa thích còn dư thì gói lại. Mấy người kia, kẻ thì hạ cây, người thì đốn củi. Vì núi ấy là chỗ hái củi của nhân dân khắp miền đó nên không bao giờ có cọp hay thú dữ, rắn độc. Chúng tôi vui thích rong chơi không hay mặt trời đã xế. Ông Thủ gọi chúng tôi lại chỗ bờ khe, chọn nơi sạch sẽ, mát mẻ, tụ nhau ăn cơm. Cơm nguội với dưa muối mà ăn ngon lành hơn cá thịt ở nhà. Cơm xong, có người nằm ngủ trên những tảng đá lớn, phẳng phiu, hoặc trên đám cỏ xanh mơn mởn, sạch bóng, hay chụm nhau trò chuyện. Đến chừng bốn giờ, gió nồm hiu hiu thổi lên, trời mát, chúng tôi kéo nhau về…
(Còn tiếp)
............
1. Nguyễn Nhu: Cử Nhân năm Canh Tý (Thành Thái 12, 1900) người xã Đông Thành (Gò Nổi).
2. Võ Hoành: xã Long Phước (Duy Xuyên), Cử Nhân (1903), Phó Bảng (1910).
Hồi ký: Khúc tiêu đồng (Kỳ 3)
…
Năm tôi lên 15 tuổi, người làng Phú Thứ rước ông nội tôi dạy học tại
nhà ông Bá hộ Nhu. Lại có ông Nguyễn Tuyển, học giỏi mà thi hỏng trường
Ba đến ba lần, rồi cũng làm nghề dạy học. Ông Nguyễn Tuyển dạy ở nhà ông
Xã Đoan làng Bình Cư, giáp giới làng Phú Thứ.
Nhân về thăm nhà, ông tôi dắt tôi lên làng Phú Thứ chơi, sau khi được thầy Tú Ngô cho nghỉ phép mấy ngày. Cũng nên nhắc lại là thời ấy, không có thứ năm, chúa nhật gì cả. Trong một năm chỉ nghỉ các ngày: trước sau Tết và trước sau mồng Năm tháng Năm tùy ý từng trường định thời hạn dài hay ngắn, có khi mới hết tháng 11 mà đã tạ trường nghỉ Tết, qua tháng Giêng nếu gặp việc tế tự ngăn trở, hay coi ngày tốt chưa được, thì trễ đến tháng 2 mới khai trường cũng có. Đó là việc riêng của nhân dân, nhà nước không can thiệp đến, nên không có pháp thức quy định.
Tôi lên trường, thấy học trò đều lớn tuổi, tổng số trên 20 người. Tôi hỏi họ học có khá không? Ông tôi bảo:
- Họ học để cưới vợ nên ít người giỏi lắm.
Tôi hỏi:
- Tại sao cưới vợ lại phải học?
- Con gái ưng lấy học trò để mong đỗ đạt, hy vọng làm bà này bà nọ, mở mặt với đời. Vì thế, nếu các anh ấy nghỉ học thì khó hỏi vợ lắm.
Vừa lúc ấy, ông Nguyễn Tuyển cho người đem thư lên mời ông tôi theo đúng nhật kỳ đã định đem học trò đến hạch nhật lực với học trò của ông Tuyển. Hạch nhật lực là thi luôn một ngày từ sớm đến chiều một bài Kinh Nghĩa, hai vần phú với một đoạn văn sách.
Ông tôi nhận lời, lại bảo tôi cùng đi với anh em. Tôi nạp quyển đề tên Nguyễn Phương. Khi học trò hai trường đến đủ, hai thầy ra đề, y theo thể thức của trường thi. Học trò biên đề, làm bài rất nghiêm chỉnh. Trưa ngày ấy, chủ nhà là ông Xã Đoan làm heo đãi cơm tất cả học sinh của hai trường. Bữa ăn họp đông đủ thầy giáo và học trò gây một không khí náo nhiệt mà vô cùng thân mật. Chủ nhà vì lòng hiếu học mà không ngại tốn kém chứ không mưu cầu một lợi lộc nào. Tôi nhắc điều này cốt để cho bạn đọc thấy thời ấy tinh thần trọng học cao đến mức độ nào, dù ở miền đồng bằng hay giáp núi rừng… Nhiều bậc phụ lão đến xem. Một cụ hỏi tôi:
- Trò viết cho ai?
Tôi thưa:
- Viết cho tôi.
Ông ấy lại nói:
- Nghe nói trò là cháu thầy tú. Trò viết cho Nguyễn Phương thì phải, chớ chắc trò còn nhỏ, đâu đã làm nổi bài này.
Các ông khác cũng xúm lại và đều khen tôi viết chữ tốt. Tôi phân vân chưa kịp trả lời thì ông tôi bảo:
- Quyển của nó đó. Nó không muốn đề tên nó mà đề Nguyễn Phương. Thật ra, nó học đã cụ thể.
Cụ thể là đã làm được Kinh Nghĩa, thi phụ và văn sách. Các phụ lão khen và mừng cho ông tôi có cháu học thông sớm.
Khi yết bảng, học trò thầy Nguyễn Tuyển đỗ đầu, Nguyễn Phương đỗ thứ hai; còn học trò “học để cưới vợ” của ông tôi đỗ thấp hoặc hỏng.
Nhân tin tôi đỗ thứ hai đồn ra, nhiều người chú ý; nhất là tôi còn nhỏ quá so với các anh sắp cưới vợ, càng gợi thêm sự tò mò. Thế là một vị phụ lão, ông thủ Khương thưa với ông tôi, xin đem tôi về nhà dạy cháu ông ấy và đi học với thầy Nguyễn Tuyển. Thầy Tuyển và các anh học trò vì có cảm tình với tôi sau khi yết bảng, đều tán thành rồi tới bên ông tôi năn nỉ mãi. Nể lời, ông tôi mới chịu. Tôi về thưa lại cha mẹ, cha mẹ tôi ngại đường xa, nhưng không dám trái ý ông tôi.
Tôi lên ở nhà ông thủ Khương dạy trẻ và đi học.
Thế là bắt đầu cuộc đời làm thầy của tôi.
Từ đây, tôi không còn dám chơi đùa nghịch ngợm thế nào tùy ý. Vì tôi đã nghiễm nhiên trở thành một ông thầy con con, được học trò gọi bằng Thầy và được phụ huynh yêu trọng.
Dạy ở nhà ông thủ Khương, thầy trò rất tương đắc. Nhất là được ở gần ông tôi rất vui. Mới hơn nửa năm, gặp ngày Tết tôi nghỉ về nhà. Ông thủ Khương kỉnh tôi những đồ thổ sản với 5 đồng bạc và hẹn sau Tết trở lên dạy lại. Ông ấy cũng nói: sẽ xuống thăm gia đình tôi sau Tết.
Trong dịp Tết này, có người trong làng đến nói với tôi, bàn định là sau Tết này, xin mời tôi đến dạy trẻ em trong nhà ông ấy và trình bày tỉ mỉ:
- Ở đây, tôi đã bàn với trong xóm sẽ có trên 20 trẻ nhỏ đi học, sẽ có lễ Tết thầy hẳn hoi. Xin thầy nhận lời cho.
Tôi thưa lại, ông tôi và cha mẹ tôi nhận lời. Tôi lên từ biệt ông thủ Khương, thầy Nguyễn Tuyển và anh em bạn.
Trong thời gian từ 15 đến 17 tuổi, tôi ngồi dạy trong làng và đi học trường thầy tú Ngô. Học trò tôi trên 20; những kỳ mồng Năm, ngày Tết, phụ huynh các học sinh trịnh trọng mang lễ vật tới nhà. Tôi đỏ mặt vì e thẹn, may nhờ có cha mẹ tôi tiếp đãi. Ngoài lễ vật còn có tiền bạc nữa. Đó là những món thâu đầu tiên của đời tôi, làm cho tôi sung sướng đến rung động cả người. Cha mẹ tôi cũng vui lây. Các bà bạn mẹ tôi nói với mẹ tôi:
- Chị có phước được hưởng lộc con.
Tôi tiếp tục công việc vừa của người học trò chăm, vừa của ông thầy nghiêm và chuẩn bị đầy đủ cho các kỳ thi sắp tới…
(Còn tiếp)
Nhân về thăm nhà, ông tôi dắt tôi lên làng Phú Thứ chơi, sau khi được thầy Tú Ngô cho nghỉ phép mấy ngày. Cũng nên nhắc lại là thời ấy, không có thứ năm, chúa nhật gì cả. Trong một năm chỉ nghỉ các ngày: trước sau Tết và trước sau mồng Năm tháng Năm tùy ý từng trường định thời hạn dài hay ngắn, có khi mới hết tháng 11 mà đã tạ trường nghỉ Tết, qua tháng Giêng nếu gặp việc tế tự ngăn trở, hay coi ngày tốt chưa được, thì trễ đến tháng 2 mới khai trường cũng có. Đó là việc riêng của nhân dân, nhà nước không can thiệp đến, nên không có pháp thức quy định.
Tôi lên trường, thấy học trò đều lớn tuổi, tổng số trên 20 người. Tôi hỏi họ học có khá không? Ông tôi bảo:
- Họ học để cưới vợ nên ít người giỏi lắm.
Tôi hỏi:
- Tại sao cưới vợ lại phải học?
- Con gái ưng lấy học trò để mong đỗ đạt, hy vọng làm bà này bà nọ, mở mặt với đời. Vì thế, nếu các anh ấy nghỉ học thì khó hỏi vợ lắm.
Vừa lúc ấy, ông Nguyễn Tuyển cho người đem thư lên mời ông tôi theo đúng nhật kỳ đã định đem học trò đến hạch nhật lực với học trò của ông Tuyển. Hạch nhật lực là thi luôn một ngày từ sớm đến chiều một bài Kinh Nghĩa, hai vần phú với một đoạn văn sách.
Ông tôi nhận lời, lại bảo tôi cùng đi với anh em. Tôi nạp quyển đề tên Nguyễn Phương. Khi học trò hai trường đến đủ, hai thầy ra đề, y theo thể thức của trường thi. Học trò biên đề, làm bài rất nghiêm chỉnh. Trưa ngày ấy, chủ nhà là ông Xã Đoan làm heo đãi cơm tất cả học sinh của hai trường. Bữa ăn họp đông đủ thầy giáo và học trò gây một không khí náo nhiệt mà vô cùng thân mật. Chủ nhà vì lòng hiếu học mà không ngại tốn kém chứ không mưu cầu một lợi lộc nào. Tôi nhắc điều này cốt để cho bạn đọc thấy thời ấy tinh thần trọng học cao đến mức độ nào, dù ở miền đồng bằng hay giáp núi rừng… Nhiều bậc phụ lão đến xem. Một cụ hỏi tôi:
- Trò viết cho ai?
Tôi thưa:
- Viết cho tôi.
Ông ấy lại nói:
- Nghe nói trò là cháu thầy tú. Trò viết cho Nguyễn Phương thì phải, chớ chắc trò còn nhỏ, đâu đã làm nổi bài này.
Các ông khác cũng xúm lại và đều khen tôi viết chữ tốt. Tôi phân vân chưa kịp trả lời thì ông tôi bảo:
- Quyển của nó đó. Nó không muốn đề tên nó mà đề Nguyễn Phương. Thật ra, nó học đã cụ thể.
Cụ thể là đã làm được Kinh Nghĩa, thi phụ và văn sách. Các phụ lão khen và mừng cho ông tôi có cháu học thông sớm.
Khi yết bảng, học trò thầy Nguyễn Tuyển đỗ đầu, Nguyễn Phương đỗ thứ hai; còn học trò “học để cưới vợ” của ông tôi đỗ thấp hoặc hỏng.
Nhân tin tôi đỗ thứ hai đồn ra, nhiều người chú ý; nhất là tôi còn nhỏ quá so với các anh sắp cưới vợ, càng gợi thêm sự tò mò. Thế là một vị phụ lão, ông thủ Khương thưa với ông tôi, xin đem tôi về nhà dạy cháu ông ấy và đi học với thầy Nguyễn Tuyển. Thầy Tuyển và các anh học trò vì có cảm tình với tôi sau khi yết bảng, đều tán thành rồi tới bên ông tôi năn nỉ mãi. Nể lời, ông tôi mới chịu. Tôi về thưa lại cha mẹ, cha mẹ tôi ngại đường xa, nhưng không dám trái ý ông tôi.
Thế là bắt đầu cuộc đời làm thầy của tôi.
Từ đây, tôi không còn dám chơi đùa nghịch ngợm thế nào tùy ý. Vì tôi đã nghiễm nhiên trở thành một ông thầy con con, được học trò gọi bằng Thầy và được phụ huynh yêu trọng.
Dạy ở nhà ông thủ Khương, thầy trò rất tương đắc. Nhất là được ở gần ông tôi rất vui. Mới hơn nửa năm, gặp ngày Tết tôi nghỉ về nhà. Ông thủ Khương kỉnh tôi những đồ thổ sản với 5 đồng bạc và hẹn sau Tết trở lên dạy lại. Ông ấy cũng nói: sẽ xuống thăm gia đình tôi sau Tết.
Trong dịp Tết này, có người trong làng đến nói với tôi, bàn định là sau Tết này, xin mời tôi đến dạy trẻ em trong nhà ông ấy và trình bày tỉ mỉ:
- Ở đây, tôi đã bàn với trong xóm sẽ có trên 20 trẻ nhỏ đi học, sẽ có lễ Tết thầy hẳn hoi. Xin thầy nhận lời cho.
Tôi thưa lại, ông tôi và cha mẹ tôi nhận lời. Tôi lên từ biệt ông thủ Khương, thầy Nguyễn Tuyển và anh em bạn.
Trong thời gian từ 15 đến 17 tuổi, tôi ngồi dạy trong làng và đi học trường thầy tú Ngô. Học trò tôi trên 20; những kỳ mồng Năm, ngày Tết, phụ huynh các học sinh trịnh trọng mang lễ vật tới nhà. Tôi đỏ mặt vì e thẹn, may nhờ có cha mẹ tôi tiếp đãi. Ngoài lễ vật còn có tiền bạc nữa. Đó là những món thâu đầu tiên của đời tôi, làm cho tôi sung sướng đến rung động cả người. Cha mẹ tôi cũng vui lây. Các bà bạn mẹ tôi nói với mẹ tôi:
- Chị có phước được hưởng lộc con.
Tôi tiếp tục công việc vừa của người học trò chăm, vừa của ông thầy nghiêm và chuẩn bị đầy đủ cho các kỳ thi sắp tới…
(Còn tiếp)
Hồi ký: Khúc tiêu đồng (Kỳ 4)
… Năm 18 tuổi, tôi ra Huế thi Hương.
Theo chính thể lúc ấy thì ở kinh đô Huế, nhà nước lập trường Quốc Tử Giám. Quan tế tửu, quan tư nghiệp và các giáo viên dạy. Người thụ huấn gồm có tôn sinh, con em trong họ vua, ấm sinh, con cháu các quan và học sinh, con em nhà thường dân sau khi khảo hạch trúng tuyển. Các người thụ huấn đều được cấp lương: tôn sinh, ấm sinh: hai đồng rưỡi, học sinh: một đồng tám giác (2$50 và 1$80). Người có tú tài và con nhà thường dân mà ưu tú cũng được vào học.
… Chế độ khoa cử nước ta bắt đầu từ vua Thánh Tôn nhà Lý. Sau khi lập văn miếu, tô tượng Khổng phu tử và các vị hiền triết lại lập nhà Quốc Tử Giám, vua mở khoa thi lấy nhân tài dùng vào các chức vụ trong nước. Đến vua Thái Tôn nhà Trần đặt ra Kinh Trạng Nguyên và Trại Trạng Nguyên.
Đời Lê có tham khảo chế độ khoa cử của các triều Minh, Thanh bên Trung Hoa để thêm bớt, thay đổi cho hợp lý, có mở khoa minh kinh và hoành từ. Triều Nguyễn cũng có thêm bớt ít nhiều thể lệ thi và thay đổi một ít danh từ.
Như đời Lê, Hương cống đổi ra Cử nhân, Sinh đồ đổi Tú tài song vẫn theo đúng lối cũ, cứ ba năm một kỳ thi Hương, sau thi Hương là thi Hội và thi Đình. Những năm Tỵ, Ngọ, Mẹo, Dậu thì thi Hương; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì thi Hội và thi Đình. Ngoài mấy năm ấy ra mà gặp những năm vua lên ngôi, sinh thái tử, khánh thọ thái hậu hay khánh thọ đức vua thì mở những khoa đặc biệt gọi là ân khoa.
Đời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, nước ta có 7 trường thi là: Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên, Bình Định và Gia Định ở Nam kỳ. Đến cuối đời Tự Đức, trường Hà thi chung trường Nam gọi là Hà Nam hợp thí.
Ngoài
học trò đi thi chính, còn có phụ thí. Phụ thí dành cho học trò có
trường hợp: như cha quán ở Bắc vào làm việc ở Nam, không thể về Bắc thi,
thì người con theo cha thi ở Nam. Và những duyên cớ chính đáng khác đều
có thể xin phụ thí. Duy có điều đặc biệt là những người xin phụ thí có
khi quan trường bắt ngồi riêng ở đường thập đạo.
Vì người phụ thí phần nhiều là con quan hay mượn thế lực hoặc thuê người làm bài cho chắc đỗ và lại có những người học giỏi mà lão đão khoa trường nên nản lòng, chỉ mong được vào trường làm thuê kiếm tiền. Vì thế, phải ngồi riêng cho dễ kiểm soát.
Theo chính thể lúc ấy thì ở kinh đô Huế, nhà nước lập trường Quốc Tử Giám. Quan tế tửu, quan tư nghiệp và các giáo viên dạy. Người thụ huấn gồm có tôn sinh, con em trong họ vua, ấm sinh, con cháu các quan và học sinh, con em nhà thường dân sau khi khảo hạch trúng tuyển. Các người thụ huấn đều được cấp lương: tôn sinh, ấm sinh: hai đồng rưỡi, học sinh: một đồng tám giác (2$50 và 1$80). Người có tú tài và con nhà thường dân mà ưu tú cũng được vào học.
… Chế độ khoa cử nước ta bắt đầu từ vua Thánh Tôn nhà Lý. Sau khi lập văn miếu, tô tượng Khổng phu tử và các vị hiền triết lại lập nhà Quốc Tử Giám, vua mở khoa thi lấy nhân tài dùng vào các chức vụ trong nước. Đến vua Thái Tôn nhà Trần đặt ra Kinh Trạng Nguyên và Trại Trạng Nguyên.
Đời Lê có tham khảo chế độ khoa cử của các triều Minh, Thanh bên Trung Hoa để thêm bớt, thay đổi cho hợp lý, có mở khoa minh kinh và hoành từ. Triều Nguyễn cũng có thêm bớt ít nhiều thể lệ thi và thay đổi một ít danh từ.
Như đời Lê, Hương cống đổi ra Cử nhân, Sinh đồ đổi Tú tài song vẫn theo đúng lối cũ, cứ ba năm một kỳ thi Hương, sau thi Hương là thi Hội và thi Đình. Những năm Tỵ, Ngọ, Mẹo, Dậu thì thi Hương; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì thi Hội và thi Đình. Ngoài mấy năm ấy ra mà gặp những năm vua lên ngôi, sinh thái tử, khánh thọ thái hậu hay khánh thọ đức vua thì mở những khoa đặc biệt gọi là ân khoa.
Đời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, nước ta có 7 trường thi là: Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên, Bình Định và Gia Định ở Nam kỳ. Đến cuối đời Tự Đức, trường Hà thi chung trường Nam gọi là Hà Nam hợp thí.
Vì người phụ thí phần nhiều là con quan hay mượn thế lực hoặc thuê người làm bài cho chắc đỗ và lại có những người học giỏi mà lão đão khoa trường nên nản lòng, chỉ mong được vào trường làm thuê kiếm tiền. Vì thế, phải ngồi riêng cho dễ kiểm soát.
Danh sách những nhà yêu nước..khởi nghĩa Duy Tân 1916..đến tay Pháp như thế nào ?
(Quản
trị blog) - Bài này xem như lời giới thiệu cuốn hồi ký " KHÚC TIÊU
ĐỒNG" của tác giả là cụ HÀ NGẠI (HÀ THƯỢC) - đã có bài viết giới thiệu
sơ lược về cụ trên blog này .
Danh sách những nhà yêu nước..khởi nghĩa Duy Tân 1916..đến tay Pháp như thế nào?
“DANH NHÂN” NGUYỄN HIỂN DĨNH ÔNG LÀ AI?
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Từ cuối năm 1996 cho đến năm 1998. Báo Đông Dương Thời Báo, trích đăng nhiều kỳ tập sách nhỏ “Danh nhân” Nguyễn Hiển Dĩnh, ông là ai? của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân. Vào năm 1998, Nhà xuất bản Anh Trần ở Houston, Texas, USA (nay ở trong tổ hợp nhà xuất bản Đông Dương Thời Báo), xuất bản tập sách nhỏ này. Nhưng phổ biến không được đại trà, chỉ được hơn vài trăm độc giả ủng hộ mua tập sách.(1.000 ấn bản) qua P.O Box 683225 – Houston, TX, 77014, và một số nhà sách ở Houston và California
Trang nhà Đông Dương Thời Báo, sẽ cho lên mạng tập sách nhỏ “Danh nhân” Nguyễn Hiển Dĩnh, ông là ai? của nhà nghiên cúu Nguyễn Đắc Xuân ngày gần đây. Vừa qua ĐDTB, sưu tập thêm được 4 bài viết về Nguyễn Hiển Dĩnh, của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân trên tạp chí Sông Hương & Huế Xưa và Nay. Để cung cấp thêm tư liệu về “nhân vật lịch sử” Nguyễn Hiển Dĩnh. ĐDTB trích đăng 4 bài viết này trên trang nhà ĐDTB sau đây....
Bản Danh sách những nhà yêu nước Quảng Nam tham gia khởi nghĩa Duy Tân 1916 đến tay thực dân Pháp như thế nào ?
....................
“DANH NHÂN” NGUYỄN HIỂN DĨNH ÔNG LÀ AI?
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Từ cuối năm 1996 cho đến năm 1998. Báo Đông Dương Thời Báo, trích đăng nhiều kỳ tập sách nhỏ “Danh nhân” Nguyễn Hiển Dĩnh, ông là ai? của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân. Vào năm 1998, Nhà xuất bản Anh Trần ở Houston, Texas, USA (nay ở trong tổ hợp nhà xuất bản Đông Dương Thời Báo), xuất bản tập sách nhỏ này. Nhưng phổ biến không được đại trà, chỉ được hơn vài trăm độc giả ủng hộ mua tập sách.(1.000 ấn bản) qua P.O Box 683225 – Houston, TX, 77014, và một số nhà sách ở Houston và California
Trang nhà Đông Dương Thời Báo, sẽ cho lên mạng tập sách nhỏ “Danh nhân” Nguyễn Hiển Dĩnh, ông là ai? của nhà nghiên cúu Nguyễn Đắc Xuân ngày gần đây. Vừa qua ĐDTB, sưu tập thêm được 4 bài viết về Nguyễn Hiển Dĩnh, của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân trên tạp chí Sông Hương & Huế Xưa và Nay. Để cung cấp thêm tư liệu về “nhân vật lịch sử” Nguyễn Hiển Dĩnh. ĐDTB trích đăng 4 bài viết này trên trang nhà ĐDTB sau đây....
Bản Danh sách những nhà yêu nước Quảng Nam tham gia khởi nghĩa Duy Tân 1916 đến tay thực dân Pháp như thế nào ?
HỌ HÀ các nhà khoa bảng...
Các nhân vật tiêu biểu
HÀ THƯỢC (HÀ NGẠI)
Ông Nội tôi tên là Hà Thược tự Hà Ngại (thường gọi Án Ngại), sinh năm 1890 tại làng Phú quý Na khom, nay là thôn Na khom , xã Điện quang, huyện Điện Bàn , tinh Quảng Nam.
Ông tôi là cháu đời thứ 13 dòng dõi HÀ PHƯỚC thuộc Tộc Hà ở Quảng Nam, (nhánh 6, chi 3, phái 3 Phú quý Na khom - căn cứ vào quyển Gia Phả Họ Hà năm 1986). Ông tôi sinh ra trong gia đình “theo đòi nho học” (theo lời kể của Ông), nhưng gia đinh nghèo lắm, không đủ tiền mua sách, phải mượn sách của các làng lân cận để học.
Ông tôi là học trò nghèo , nhưng nhờ hiếu học nên đỗ đạt và được bổ làm quan.
Khi tôi còn bé vẫn thường nghe Ba Mẹ tôi kể về Ông tôi, rằng là ” Ông Nội của con làm Quan Bố chánh Án sát mấy mươi năm....là đã giúp người này, người kia...” , tôi nghe mà cứ ngỡ như nghe chuyện cổ tích.
Nay tôi được đọc Hồi ký “Khúc Tiêu Đồng” của Ông , tôi mới hiểu tường tận phần nào cuộc đời làm quan của Ông tôi.
Về Hán Học Ông tôi thi dỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý 1912 tại trường Thừa Thiên. Về Tây học Ông tôi tốt nghiệp Trường Hậu Bổ ở Huế ( Trường Hậu Bổ dành cho những người khoa giáp , ai được vào học xem như sơ bổ rồi , tức là đã được bổ dụng , sẽ ra làm quan ) . Tốt nghiệp Ông tôi được thăng hàm Trước tác (6/2 ) trong khi các vị cử nhân khác chỉ được thăng Biên tu. Sau đó Ông tôi được bổ vào học tập chính sự và làm Hậu Bổ ở tỉnh Bình định.
Những phẩm hàm Ông tôi đã kinh qua :
-Hậu Bổ tỉnh Bình định (hàm Tùng lục phẩm *) làm việc 2 năm.
-Tri huyện Phù Cát,tỉnh Bình Định (hàm Chánh lục phẩm *) làm việc 6 năm.
-Tri huyện Hậu lộc, tỉnh Thanh hóa. (Hậu lộc là huyện nhỏ và nghèo nhất tỉnh Thanh hóa lúc bấy giờ)
-Tri huyện Yên định, tỉnh Thanh hóa (Yên định là huyện lớn và giàu nhất tỉnh Thanh hóa lúc bấy giờ)
-Tri phủ Đông sơn, tỉnh Thanh hóa (hàm Tùng ngũ phẩm *).
-Tri phủ Thiệu hóa, tỉnh Thanh hóa.
( Thời gian Ông tôi làm tri huyện 2 huyện Hậu lộc và Yên định, tri phủ 2 phủ Đông sơn và Thiệu hóa là 10 năm.)
-Tri phủ Triệu phong , tỉnh Quảng tri , làm việc 11 tháng.
-Án sát ** tỉnh Bình thuận (hàm Tùng tam phẩm * ) làm việc 4 năm 1 tháng.
-Phủ Thừa tỉnh Thừa thiên ( hàm Tùng tam phẩm như Án sát) làm việc 2 năm.
-Án sát** Hà tỉnh ( năm 1940 )
-Bố chánh ** Nghệ an ( hàm Chánh tam phẩm * )
-Quản đạo ** Kontum ( Quản đạo ngang hàm Bố chánh )
-Tuần vũ** Kontum ( hàm Tùng nhị phẩm * )
Sau khi Ông tôi làm Tuần vũ Kontum một thời gian thi đến CMT8 năm 1945 , Ông tôi giao chánh quyền cho CM và được về nghĩ hưu.
Thời gian Ông tôi nghĩ hưu về sống tại Thành nội Huế, Ông tôi đi dạy thêm chữ Nho , đến năm 1960 sức khỏe Ông tôi giảm sút nên Bác Cả đưa Ông tôi vào Sài gòn sống chung để chăm sóc.
Ông tôi mất ngày 14 tháng giêng năm Bính thìn ( 1976 ). Hiện nay tro cốt của Ông tôi đang gởi thờ tại Chùa Vĩnh Nghiêm thành phố HCM.
Với tấm lòng kính yêu và ngưỡng mộ đối với Ông Nội , đồng thời được sự khuyến khich của các anh trong Tộc, tôi xin mạn phép Ông , “ trình làng ” Hồi ký “ Khúc Tiêu Đồng ” của Ông tôi, với mong muốn cung cấp ít nhiếu thông tin về cuộc đời làm quan của Ông tôi , đối với quí cô- bác- anh - chị trong Tộc Hà có sự quan tâm tìm hiểu .
Rất mong được sự lượng thứ nếu có điều chi sơ sót.
PHỤ CHÚ :
*Theo quan chế triều Nguyễn có 9 phẩm trật ,
từ Nhất phẩm đến Cửu phẩm , Nhất phẩm là
phẩm trật lớn nhất , Cửu phẩm là phẩm trật
nhỏ nhất . Trong mỗi phẩm có trật Chánh và
trật Tùng (Chánh nhất phẩm , Tùng nhất phẩm)
trật Chánh cao hơn trật Tùng.
**Theo cách tổ chức hành chánh của các triều
trước và triều Nguyễn lúc bấy giờ , mỗi tỉnh
lớn có 3 quan là Tổng đốc , Bố chánh , Án sát .
Tỉnh nhỏ chỉ có Tuần vũ và Án sát . Tỉnh nhỏ
hơn nữa chỉ có Quản đạo .
Tổng đốc , Tuần vũ , Quản đạo là chức
Tỉnh trưởng sau năm 1954.
Cháu nội Hà Thị Hải Vân
Quản trị blog - Tên ông (là Hà Ngại nhưng in nhầm tên là Hà Ngãi) có trong quyển " HỌ HÀ các nhà khoa bảng, các nhân vật lịch sử, văn bia " của tác giả Đại tá Hà văn Sĩ do Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc xuất bản năm 2004.
Ông Nội tôi tên là Hà Thược tự Hà Ngại (thường gọi Án Ngại), sinh năm 1890 tại làng Phú quý Na khom, nay là thôn Na khom , xã Điện quang, huyện Điện Bàn , tinh Quảng Nam.
Ông tôi là cháu đời thứ 13 dòng dõi HÀ PHƯỚC thuộc Tộc Hà ở Quảng Nam, (nhánh 6, chi 3, phái 3 Phú quý Na khom - căn cứ vào quyển Gia Phả Họ Hà năm 1986). Ông tôi sinh ra trong gia đình “theo đòi nho học” (theo lời kể của Ông), nhưng gia đinh nghèo lắm, không đủ tiền mua sách, phải mượn sách của các làng lân cận để học.
Ông tôi là học trò nghèo , nhưng nhờ hiếu học nên đỗ đạt và được bổ làm quan.
Khi tôi còn bé vẫn thường nghe Ba Mẹ tôi kể về Ông tôi, rằng là ” Ông Nội của con làm Quan Bố chánh Án sát mấy mươi năm....là đã giúp người này, người kia...” , tôi nghe mà cứ ngỡ như nghe chuyện cổ tích.
Nay tôi được đọc Hồi ký “Khúc Tiêu Đồng” của Ông , tôi mới hiểu tường tận phần nào cuộc đời làm quan của Ông tôi.
Về Hán Học Ông tôi thi dỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý 1912 tại trường Thừa Thiên. Về Tây học Ông tôi tốt nghiệp Trường Hậu Bổ ở Huế ( Trường Hậu Bổ dành cho những người khoa giáp , ai được vào học xem như sơ bổ rồi , tức là đã được bổ dụng , sẽ ra làm quan ) . Tốt nghiệp Ông tôi được thăng hàm Trước tác (6/2 ) trong khi các vị cử nhân khác chỉ được thăng Biên tu. Sau đó Ông tôi được bổ vào học tập chính sự và làm Hậu Bổ ở tỉnh Bình định.
Những phẩm hàm Ông tôi đã kinh qua :
-Hậu Bổ tỉnh Bình định (hàm Tùng lục phẩm *) làm việc 2 năm.
-Tri huyện Phù Cát,tỉnh Bình Định (hàm Chánh lục phẩm *) làm việc 6 năm.
-Tri huyện Hậu lộc, tỉnh Thanh hóa. (Hậu lộc là huyện nhỏ và nghèo nhất tỉnh Thanh hóa lúc bấy giờ)
-Tri huyện Yên định, tỉnh Thanh hóa (Yên định là huyện lớn và giàu nhất tỉnh Thanh hóa lúc bấy giờ)
-Tri phủ Đông sơn, tỉnh Thanh hóa (hàm Tùng ngũ phẩm *).
-Tri phủ Thiệu hóa, tỉnh Thanh hóa.
( Thời gian Ông tôi làm tri huyện 2 huyện Hậu lộc và Yên định, tri phủ 2 phủ Đông sơn và Thiệu hóa là 10 năm.)
-Tri phủ Triệu phong , tỉnh Quảng tri , làm việc 11 tháng.
-Án sát ** tỉnh Bình thuận (hàm Tùng tam phẩm * ) làm việc 4 năm 1 tháng.
-Phủ Thừa tỉnh Thừa thiên ( hàm Tùng tam phẩm như Án sát) làm việc 2 năm.
-Án sát** Hà tỉnh ( năm 1940 )
-Bố chánh ** Nghệ an ( hàm Chánh tam phẩm * )
-Quản đạo ** Kontum ( Quản đạo ngang hàm Bố chánh )
-Tuần vũ** Kontum ( hàm Tùng nhị phẩm * )
Sau khi Ông tôi làm Tuần vũ Kontum một thời gian thi đến CMT8 năm 1945 , Ông tôi giao chánh quyền cho CM và được về nghĩ hưu.
Thời gian Ông tôi nghĩ hưu về sống tại Thành nội Huế, Ông tôi đi dạy thêm chữ Nho , đến năm 1960 sức khỏe Ông tôi giảm sút nên Bác Cả đưa Ông tôi vào Sài gòn sống chung để chăm sóc.
Ông tôi mất ngày 14 tháng giêng năm Bính thìn ( 1976 ). Hiện nay tro cốt của Ông tôi đang gởi thờ tại Chùa Vĩnh Nghiêm thành phố HCM.
Với tấm lòng kính yêu và ngưỡng mộ đối với Ông Nội , đồng thời được sự khuyến khich của các anh trong Tộc, tôi xin mạn phép Ông , “ trình làng ” Hồi ký “ Khúc Tiêu Đồng ” của Ông tôi, với mong muốn cung cấp ít nhiếu thông tin về cuộc đời làm quan của Ông tôi , đối với quí cô- bác- anh - chị trong Tộc Hà có sự quan tâm tìm hiểu .
Rất mong được sự lượng thứ nếu có điều chi sơ sót.
PHỤ CHÚ :
*Theo quan chế triều Nguyễn có 9 phẩm trật ,
từ Nhất phẩm đến Cửu phẩm , Nhất phẩm là
phẩm trật lớn nhất , Cửu phẩm là phẩm trật
nhỏ nhất . Trong mỗi phẩm có trật Chánh và
trật Tùng (Chánh nhất phẩm , Tùng nhất phẩm)
trật Chánh cao hơn trật Tùng.
**Theo cách tổ chức hành chánh của các triều
trước và triều Nguyễn lúc bấy giờ , mỗi tỉnh
lớn có 3 quan là Tổng đốc , Bố chánh , Án sát .
Tỉnh nhỏ chỉ có Tuần vũ và Án sát . Tỉnh nhỏ
hơn nữa chỉ có Quản đạo .
Tổng đốc , Tuần vũ , Quản đạo là chức
Tỉnh trưởng sau năm 1954.
Cháu nội Hà Thị Hải Vân
Quản trị blog - Tên ông (là Hà Ngại nhưng in nhầm tên là Hà Ngãi) có trong quyển " HỌ HÀ các nhà khoa bảng, các nhân vật lịch sử, văn bia " của tác giả Đại tá Hà văn Sĩ do Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc xuất bản năm 2004.
Thông báo cập nhật Gia Phả Tộc HÀ
Sau 26 năm không cập nhật, nên gia phả TỘC HÀ - Quảng Nam thiếu sót rất nhiều con cháu do thiếu thông tin. Xin xem Phả hệ - Phả đồ ở đây.
Để cập nhật gia phả mới, Qúy vị sẽ nhận Phiếu sửa chữa, bổ sung danh sách vào gia phả Tộc HÀ từ trực tiếp Ban Soạn Thảo Gia Phả , hay photo của người quen biết hoặc có thể vào website này để download về, in ra.
Phiếu sửa chữa, bổ sung danh sách vào gia phả Tộc HÀ (Dành cho Con – Dâu- Rể - Cháu của Tộc . Mỗi người con trai, con gái, con dâu, con rể , cháu nội. cháu ngoại đều phải ghi một phiếu số 1, nếu có con thì ghi thêm phiếu số 2, (và mỗi người con thì lại ghi một phiếu số 1); nếu có đính chính thì ghi thêm phiếu số 3 . Xin vui lòng tự photo thêm nhiều bản trước khi ghi.
Xin gửi về Ban soạn thảo GIA PHẢ Họ HÀ 1 bộ , và hãy giữ lại 1 bộ để đối chiếu khi cần .:
ĐC : Ông Hà (Vĩnh) Ngọc Huân , Số nhà 118/26 đường Trần Quang Diệu, Phường 14, Q. 3, TP HCM , ĐTDĐ : 0938801940
Thời gian chậm nhất là ngày 01/06/2012.
Rất mong tất cả thành viên trong Tộc HÀ cùng chung tay góp sức chỉnh tu, bổ sung để gia phả mau chóng hoàn thành.
Để cập nhật gia phả mới, Qúy vị sẽ nhận Phiếu sửa chữa, bổ sung danh sách vào gia phả Tộc HÀ từ trực tiếp Ban Soạn Thảo Gia Phả , hay photo của người quen biết hoặc có thể vào website này để download về, in ra.
Phiếu sửa chữa, bổ sung danh sách vào gia phả Tộc HÀ (Dành cho Con – Dâu- Rể - Cháu của Tộc . Mỗi người con trai, con gái, con dâu, con rể , cháu nội. cháu ngoại đều phải ghi một phiếu số 1, nếu có con thì ghi thêm phiếu số 2, (và mỗi người con thì lại ghi một phiếu số 1); nếu có đính chính thì ghi thêm phiếu số 3 . Xin vui lòng tự photo thêm nhiều bản trước khi ghi.
Xin gửi về Ban soạn thảo GIA PHẢ Họ HÀ 1 bộ , và hãy giữ lại 1 bộ để đối chiếu khi cần .:
ĐC : Ông Hà (Vĩnh) Ngọc Huân , Số nhà 118/26 đường Trần Quang Diệu, Phường 14, Q. 3, TP HCM , ĐTDĐ : 0938801940
Thời gian chậm nhất là ngày 01/06/2012.
Rất mong tất cả thành viên trong Tộc HÀ cùng chung tay góp sức chỉnh tu, bổ sung để gia phả mau chóng hoàn thành.
Mọi thắc mắc, góp ý xin liên hệ :
ông HÀ (VĨNH) NGỌC HUÂN (tức Hiến) 0938801940
ông HÀ VĨNH HÙNG_0909164061
ông HÀ ANH MINH 08- 39715549
ông HÀ VĨNH ĐÍNH 0913682798
ông HÀ THÚC LINH 0913804952
ông HÀ NHƯ DŨNG (tức Chấn) 0943594828
ông HÀ CÔNG CHÍNH 0913171755 Email : chinh3032006@yahoo.com.
TM. BAN SOẠN THẢO GIA PHẢ TỘC HÀ – (tạm thời)
HÀ ( VĨNH ) NGỌC HUÂN
Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012
Thờ cúng tổ tiên
1. Trong gia đình
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay còn được gọi là đạo thờ cúng tổ tiên trở thành nếp sống trong mửi gia đình người Việt Nam và được thể hiện trong rất nhiều cách thức.
Những biểu hiện bên ngoài như: bàn thờ ông bà, cha mẹ (gia tiên), giỗ chạp... đến những tâm thức thường trực tiềm tàng trong cách nghĩ, cách cảm, lối sống của cư dân.
2. Bàn thờ gia tiên
Theo điều tra năm 1999 - 2000, hầu như nhà nào cũng thờ gia tiên không kể trưởng thứ, cứ lập gia đình ra ở riêng là dành một chỗ trang trọng nhất để thờ.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay còn được gọi là đạo thờ cúng tổ tiên trở thành nếp sống trong mửi gia đình người Việt Nam và được thể hiện trong rất nhiều cách thức.
Những biểu hiện bên ngoài như: bàn thờ ông bà, cha mẹ (gia tiên), giỗ chạp... đến những tâm thức thường trực tiềm tàng trong cách nghĩ, cách cảm, lối sống của cư dân.
2. Bàn thờ gia tiên
Theo điều tra năm 1999 - 2000, hầu như nhà nào cũng thờ gia tiên không kể trưởng thứ, cứ lập gia đình ra ở riêng là dành một chỗ trang trọng nhất để thờ.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)